Tăng cường ứng dụng CNTT vào Y tế

đăng 20:31, 12 thg 10, 2015 bởi NANOSOFT jsc   [ cập nhật 01:08, 26 thg 1, 2016 bởi Mr Nguyên ]
Đa phần các hệ thống phần mềm đang sử dụng tại các bệnh viện công ở Việt Nam đều thiếu đồng bộ và chuyên nghiệp. Hoạt động ứng dụng CNTT nhiều khi chỉ dừng ở mức dùng máy tính thay thế thay cho giấy bút.
Nguồn: Internet

Người dân vẫn khổ dù bệnh viện đã ứng dụng CNTT.

Hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam đều đã ít nhiều sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ trợ. Tuy nhiên, tình trạng quá tải bệnh viện, xếp hàng dài để chờ khám chữa bệnh vẫn diễn ra rất phổ biến ở các bệnh viện công, đặc biệt là những bệnh viện tuyến trên, bệnh viện uy tín.

Thực tế khảo sát  tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy bộ phận tiếp nhận đăng ký của người khám chữa bệnh đã bố trí máy tính để nhân viên nhập dữ liệu cá nhân của người đến đăng ký, nhưng tình trạng người đến khám chữa bệnh phải chen chúc chờ đến lượt mình được nhập dữ liệu vào phần mềm máy tính vẫn còn xảy ra khá phổ biến. Hôm nào gặp nhân viên ngồi “mổ cò” trên bàn phím, hoặc mạng nghẽn, phần mềm trục trặc… thì thời gian chờ đợi càng kéo dài, thậm chí còn lâu hơn phương thức thủ công.

Nguồn: Internet

Trao đổi về hiện trạng này, ông Phan Xuân Trung, Giám đốc Công ty TNHH Phát triển điện toán y khoa Hoàng Trung nhận định: “ Các lãnh đạo bệnh viện đều đã nhận thức được rằng ứng dụng CNTT sẽ mang lại lợi ích cho bệnh nhân, song vẫn còn nhiều lý do khiến cho bệnh viện chưa ứng dụng. Trước hết phải kể đến sự thất bại trong ứng dụng CNTT trong những thời kỳ đầu. Các bệnh viện hăm hở trang bị phần mềm, nhưng phần mềm lại quá kém về tính năng nên có khi lại làm bệnh viện mất nhiều công sức hơn là không dùng phần mềm. Thứ hai, khi trang bị phần mềm thì phải trang bị đồng bộ cho các bộ phận của bệnh viện, từ nhân viên tiếp nhận, đến ban giám đốc bệnh viện, rất tốn tiền trong khi nguồn tài chính của bệnh viện có hạn. Hầu hết các bệnh viện hiện nay dùng phần mềm rời rạc cho các tác vụ khác nhau. Có bệnh viện phải cùng lúc nhập liệu cho nhiều phần mềm với cùng nội dung, gây tiêu tốn thời gian và nguồn nhân lực. Ngoài ra còn có yếu tố kháng cự, không muốn phần mềm đưa vào hoạt động quản lý, kiểm soát, làm mất quyền lợi riêng của bác sĩ, y tá”.

Đầu tư CNTT là đầu tư sinh lời 

Theo đánh giá của các chuyên gia CNTT và ngành y tế thì những quy định chi tiêu công quá chặt chẽ, phức tạp, cộng hưởng với sự eo hẹp của ngân sách Nhà nước đang là một trong những “lực cản” lớn nhất khiến cho các dự án triển khai ứng dụng CNTT tại bệnh viện bị ngừng lại hoặc chậm tiến độ dự án.

Với hơn 10 năm nghiên cứu về CNTT trong y tế, ông Phan Xuân Trung phân tích: “Bệnh viện muốn trang bị phần mềm phải thiết lập hồ sơ, dự án theo quy định, mất hàng năm trời vẫn chưa được phê duyệt. Điều đáng nói là những quy định ràng buộc đó không hề mang tính thực tế và người lập dự án đã cố gắng “vẽ” ra những chi tiết số liệu vô nghĩa như số lượng tính năng (function), ngày công lao động… miễn là đáp ứng đủ từng đoạn văn theo quy định. Bệnh viện có tiền, muốn dùng tiền trong quỹ hoạt động sự nghiệp để mua phần mềm nhằm nâng cao chất lượng bệnh viện thì phải làm dự án xin “ba tầng, bảy lớp” cơ quan quản lý cấp trên mới được xài tiền của mình. Còn bệnh viện không có tiền, xin cấp trên thì chỉ được chi tượng trưng. Một bệnh viện tuyến trung ương, xin tiền của Bộ Y tế để trang bị phần mềm thì được chi tối đa 500 triệu đồng, trong khi số tiền cần có lớn hơn rất nhiều. Đơn cử, mới đây, Bệnh viện Chợ Rẫy vừa ký hợp đồng mua phần mềm trong nước với giá… 25 tỷ đồng (khoảng 1 triệu đô la Mỹ)”.

Số tiền đầu tư được chi nhỏ giọt nên đã có những bệnh viện như Bệnh viện Bạch Mai phải triển khai đầu tư từng mảng phần mềm khác nhau, đến nay vẫn chưa có phần mềm đồng bộ mà phải dùng hàng chục phần mềm riêng lẻ của hàng chục nhà cung cấp khác nhau, không phát huy tốt hiệu quả khi ứng dụng thực tế.

Nguồn: Internet

Theo phân tích của nhiều chuyên gia thay vì quyết định cấp đất, xây 3 – 4 trụ sở bệnh viện mới, lãnh đạo ngành y tế nên dùng khoản đầu tư này chi cho việc tăng cường ứng dụng CNTT cho 1 bệnh viện, khi đó có thể đạt được hiệu quả và giá trị gia tăng lớn hơn như tăng tính chính xác số liệu của hoạt động khám chữa bệnh, tiết giảm thời gian chờ của bệnh nhân, tiết kiệm chi phí do thất thoát và do sai lầm chuyên môn, nắm bắt ngay tức thời số liệu hoạt động bệnh viện, tạo ra ngân hàng dữ liệu vô giá cho nghiên cứu khoa học về sau…


Nguồn: Internet
Comments