Tin tức y tế‎ > ‎

Nguồn - Tin tức bệnh viện

Y tế điện tử tại Việt Nam - Nhiều tiềm năng lớn nhưng khai thác chậm

đăng 01:24, 9 thg 1, 2017 bởi NANOSOFT jsc

Ứng dụng công nghệ thông tin để chăm sóc sức khỏe người dân - Y tế điện tử (e-Health), trở nên thông dụng từ năm 1998. Trải qua hơn 25 năm, nhiều nước trên thế giới đã đạt được những thành tựu khả quan trong lĩnh vực này. Nước ta, được đánh giá là có tiềm năng lớn về e-Health, nhưng việc áp dụng vào đời sống lại chậm hơn nhiều so với các ngành khác. Vì sao?
 

Bước khởi đầu gây hứng khởi

Kể từ ngày 1/7/2016, khi các cơ sở khám chữa bệnh cả nước triển khai thực hiện giám định bảo hiểm y tế (BHYT) điện tử, tới nay đã có hơn 13.000 cơ sở trong tổng số 14.000 cơ sở y tế trên toàn quốc kết nối thành công vào hệ thống thông tin giám định BHYT của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (BHXH). Phải mất hơn 4 năm dự án này mới hoàn thành và lần đầu tiên, một dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) đã kết nối đồng bộ với tất cả các cơ sở y tế toàn quốc trên một nền tảng ứng dụng quản lý điều hành thống nhất.

Hệ thống hoạt động trực tuyến này cung cấp các công cụ giúp cơ sở y tế khai thác thông tin, tra cứu thẻ BHYT, lịch sử khám chữa bệnh của người bệnh có BHYT và quản lý thông tuyến trên cả nước, giúp cho việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYgiám sát quyền lợi được hưởng. Với việc ứng dụng CNTT, các chi phí ngoài quy định được phát hiện và xử lý kịp thời, tránh được tình trạng lạm dụng quỹ BHYT.

Tuy nhiên, thành quả trên mới chỉ là một bước, một khâu của e-Health. So với châu Âu, một vài nước ở châu Á, e-Health của nước ta vẫn là "người học trò nhỏ". Trao đổi với anh Hoàng Văn Nam, Giám đốc công ty xuất khẩu lao động đã từng sống ở Nhật Bản, anh cho biết: "Nền y tế Nhật Bản là y tế không giấy tờ. Người dân Nhật T hiệu quả, kịp thời hơn trước. Người bệnh giảm được thời gian chờ khám bệnh, thanh toán viện phí, được cung cấp đầy đủ thông tin về chi phí được quỹ BHYT chi trả, tham gia ai cũng có Thẻ sức khỏe điện tử. Tất cả các dữ liệu bệnh viện đều online. Các thư viện y khoa online rất phổ biến. Vào các bệnh viện, bạn chỉ cần một tấm thẻ đưa vào máy thì toàn bộ quy trình thủ tục hành chính sẽ được tự động hóa. Sau khi bác sĩ khám bệnh, nhân viên y tế  điều khiển máy phát thuốc miễn phí cho bạn".

Bác sĩ Vương Văn Quý, Đặng Thị Dinh đều làm việc tại các bệnh viện lớn ở Hà Nội và có nhiều dịp công tác ở châu Âu cho biết: "Người bệnh ở các nước này chỉ cần mang một Thẻ Y tế điện tử từ khi khám đến lúc điều trị mà không cần thêm bất kỳ giấy tờ tùy thân hoặc sổ khám bệnh, thẻ BHYT nào, mặc dù bệnh nhân đã khám chữa bệnh ở nhiều bệnh viện khác nhau. Nhờ có mạng lưới e-Health, đơn thuốc có thể kê qua mạng chỉ sau vài phút, giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian. Hệ thống e-Health của châu Âu có sự tham gia của hơn 27 nước thành viên sử dụng CNTT đã tăng chất lượng dịch vụ y tế lên nhiều".

Khi hỏi về e-Health ở nước ta hai bác sĩ đều cho rằng, "cái gì cũng có, nhưng manh mún và chậm so với khu vực". Và qua các bác sĩ tôi càng hiểu về phạm vi rộng lớn, phức tạp của e-Health: Từ khám bệnh từ xa, hội chẩn từ xa, điều trị từ xa, huấn luyện, đào tạo chuyên môn trực tuyến cho các bệnh viện tuyến dưới, đội ngũ chăm sóc ảo... cho đến hồ sơ y tế điện tử (EHR) và đây là khâu quan trọng.

EHR tích hợp các thông tin: Lịch sử bệnh nhân và nhân khẩu học, ghi chú lâm sàng của bác sĩ, danh sách đầy đủ các loại thuốc và dị ứng của bệnh nhân, mua thuốc theo toa qua mạng, kết quả chẩn đoán hình ảnh... EHR được bệnh viện quản lý chặt chẽ nhưng cũng được chia sẻ thông tin với các tổ chức khác như phòng thí nghiệm, các chuyên gia, phương tiện chẩn đoán hình ảnh, các cơ sở cấp cứu, trường học… Các bác sĩ cho rằng: "Sử dụng dữ liệu giấy truyền thống chậm hơn nhiều so với tìm trong EHR. Tốc độ xử lý các phác đồ điều trị sẽ nhanh hơn nhờ các thông tin y khoa được truy vấn và truy xuất một cách tiện lợi. Quy trình giao-nhận kết quả xét nghiệm từ các phòng ban và tính năng kê đơn thuốc điện tử cũng nhanh hơn. Kết quả xét nghiệm cận lâm sàng được công nhận giữa các bệnh viện nên người dân không phải khám nhiều lần, tiết kiệm cả về vật chất và sức khỏe. Vì thế các y, bác sỹ được giải phóng khỏi các công việc liên quan đến thủ tục giấy tờ, họ sẽ dành thời gian để thăm và khám bệnh cho bệnh nhân được nhiều hơn".

Giám định BHYT điện tử mà chúng ta thực hiện từ 1/7/2016 là cơ sở bước đầu của việc xây dựng EHR, đã gây được hứng khởi trong ngành. Để trở thành e-Health theo đúng nghĩa còn rất nhiều bước, nhiều khâu phải triển khai. Làm sao đẩy nhanh được tiến độ? Phải chăng "xã hội hóa" ứng dụng CNTT y tế là một biện pháp?

"Xã hội hóa" ứng dụng CNTT y tế

Theo các chuyên gia y tế, điều kiện, tiềm năng để thực hiện e-Health ở nước ta khá lớn: Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ tăng trưởng internet cao nhất thế giới, hơn 35% dân số sử dụng internet, đường truyền đã có 4G. Trong tương lai, khi dân số ngày càng già đi, mô hình bệnh tật của con người chuyển dần sang các bệnh mạn tính cần được điều trị lâu dài, công nghệ, thiết bị y tế càng hiện đại, thì e-Health sẽ đóng vai trò chủ chốt trong ngành Y tế, mà cụ thể là hình thức y tế từ xa - khám, chữa bệnh, tư vấn cho bệnh nhân qua điện thoại di động (m-Health) và các thiết bị cầm tay khác - sẽ phát triển. Thêm nữa, trình độ CNTT nước ta vào loại khá, nếu biết kết hợp chặt chẽ với ngành Y có thể thực hiện e-Health ở nhiều hình thức, cấp độ khác nhau.

 
Thực hiện e-Health ở nước ta, nếu kể từ khi xuất hiện hình thức khám chữa bệnh từ xa đến nay, có bề dày hơn 10 năm, nhưng bước đi để đạt được đúng nghĩa của e-Health rất chậm. Từ năm 1997, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu thực hiện e-Health, đến nay mới chỉ có vài bệnh viện trong số 113 bệnh viện có hệ thống công nghệ và CNTT khá hoàn chỉnh để thực hiện e-Health. Còn các cơ sở khác, nếu có hệ thống CNTT thì chỉ tạm đáp ứng nhu cầu bình thường và manh mún, đơn lẻ, chưa có khả năng liên kết một cách quy mô giữa các đơn vị y tế.

Để đẩy nhanh tiến trình thực hiện e-Health, thiết nghĩ, cần "xã hội hóa" ứng dụng CNTT y tế. "Xã hội hóa y tế" nói chung là một chủ trương đúng đắn của nhà nước và trong thực tế đã đạt được một số kết quả, như việc vay vốn, hợp tác với các doanh nghiệp để xây dựng cơ sở hạ tầng một số bệnh viện công, nhưng liên doanh, liên kết để phát triển kỹ thuật mới, trang bị được nhiều loại thiết bị y tế hiện đại, có hệ thống CNTT tốt thì còn rất hạn chế.

Lâu nay các bệnh viện, cơ sở y tế chỉ quen với việc "xin tiền" Chính phủ để được là chủ sở hữu, chủ đầu tư mua sắm thiết bị y tế, hệ thống CNTT, để không "đi thuê". Nay chính phủ mới yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội: "Các cấp, các ngành, các địa phương, các doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức về cuộc cách mạng số, đồng thời quyết liệt đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản trị hoạt động của mình. Đây phải được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, là trách nhiệm cao nhất của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước từ trung ương tới địa phương" (Trích phát biểu tại Diễn đàn cấp cao CNTT-Truyền thông 2016 của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc).

Để hiện thực hóa yêu cầu đó, các bệnh viện cũng nên "xã hội hóa" ứng dụng CNTT y tế. Bản chất của hình thức này chính là thay đổi đầu tư ứng dụng các giải pháp CNTT sang thuê dịch vụ. Nhà cung ứng giải pháp CNTT không chuyển giao công nghệ một lần mà trở thành nhà cung ứng dịch vụ. Hình thức này vừa đảm bảo cập nhật công nghệ mới theo lộ trình nâng cấp sản phẩm của đơn vị cung ứng giải pháp, vừa tối ưu việc sử dụng nguồn nhân lực CNTT tại đơn vị ứng dụng. Hình thức thuê này còn giúp bệnh viện tiết kiệm được chi phí bản quyền phần mềm hoạt động. Nếu như Bộ Y tế sớm có khung pháp lý các chuẩn kỹ thuật cho hệ thống ứng dụng CNTT y tế và việc thuê dịch vụ có thể khơi dậy tiềm năng này trong xã hội một cách mạnh mẽ, góp phần đẩy nhanh tiến trình e-Health ở nước ta.

Phần mềm giám định BHYT điện tử bắt đầu hoạt động từ 1/7 vừa qua do Chính phủ tin tưởng giao cho Viettel đảm nhiệm. Trên thị trường hiện có một số phần mền phục vụ cho e-Health. Nhưng để có phần mềm cho một tấm Thẻ y tế trong tương lai đáp ứng đủ yêu cầu của e-Health hầu như chưa có. Rõ ràng là, rất cần sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành Y tế, các đơn vị CNTT để có một phần mềm chuẩn dùng chung cho e-Health. Tài năng tin học ở nước ta được cho khá nhiều, vì thế nên tổ chức cuộc thi viết phần mềm e- Health để chọn ra một phần mềm tốt nhất, chứ không nên chỉ định dùng phần mềm của hãng nào.

Nguồn "nhân lực số" ở nước ta khá dồi dào, rất nhiều trường đại học, học viện có khoa CNTT, thế nhưng CNTT y khoa hầu như chưa có. Các nước được gọi là có "nền Y tế điện tử" thì các trường Y đều có Khoa CNTT y khoa riêng biệt. Muốn đẩy nhanh bước tiến của e- Health và thực hiện nó một cách chuyên nghiệp chúng ta cần đào tạo ngay nguồn nhân lực chuyên sâu này.

Lợi ích của việc giám định BHYT y tế điện tử - một bước thực hiện e-Health đã tạo ra bước đột phá trong công tác quản lý, cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho dân, minh bạch về tài chính, tạo thuận lợi cho người bệnh, tiết kiệm đáng kể chi phí xã hội. Lợi ích lớn hơn qua sự kết nối toàn hệ thống là phục vụ công tác điều hành của ngành Y tế, tập trung dữ liệu phân tích xu hướng bệnh tật của từng nơi, từng nhóm đối tượng, nhóm tuổi..., từ đó phục vụ công tác hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân sát thực tế, tạo ra những bước thay đổi căn bản trong phòng bệnh và khám chữa bệnh ở nước ta. Với bước khởi đầu gây hứng khởi trên và tiếp tục đổi mới phương thức đầu tư, "xã hội hóa" ứng dụng CNTT, chuẩn bị tốt đội ngũ tin học y tế..., nước ta sẽ đẩy nhanh e-Health, chăm sóc sức khỏe cho người dân tốt hơn, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về y tế của nước ta với thế giới.

(Theo Vnreview.vn)
Phần mềm quản lý bệnh viện Nano Hospital của Nanosoft trong suốt chặng đường gần 10 năm qua đã và đang trở thành người bạn đồng hành của rất nhiều bệnh viện trên khắp cả nước trong con đường công nghệ hóa nền y tế nước nhà. Nano Hospital được cập nhật thường xuyên những thay đổi mới nhất của Bộ y tế, Bảo hiểm xã hội… và điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù của từng đơn vị. Với đội ngũ kỹ sư chuyên môn và bộ máy quản lý giàu kinh nghiệm, chúng tôi đã sẵn sàng cùng với ngành y tế và các nhà cung cấp phần mềm khác tạo ra cuộc cách mạng về tin học y tế nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu về y tế của nước ta với thế giới.

Ứng dụng CNTT trong Y tế - Bình cũ rượu mới

đăng 18:32, 27 thg 12, 2016 bởi NANOSOFT jsc   [ đã cập nhật 18:34, 27 thg 12, 2016 ]

Với việc áp dụng CNTT, ngành y tế hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc vận hành hệ thống khám chữa bệnh, trong công tác khám chữa bệnh và quản lý bệnh nhân cũng như các hoạt động của cơ sở Y tế.

CNTT giúp cán bộ y tế nâng cao kiến thức chuyên môn

Thời đại công nghệ số hiện nay, mọi thông tin đều được đăng tải trên các website y học, video, forum, sách điện tử hay thông qua các bài giảng từ xa... Nếu cán bộ y tế không sử dụng CNTT thì cũng đồng nghĩa với việc từ chối tiếp cận một nguồn kiến thức mới được cập nhật một cách nhanh chóng hơn rất nhiều so với sách in truyền thống.

Với sự phát triển của CNTT, các cán bộ nhân viên ngành y có thể nhanh chóng tiếp nhận tri thức mới của nhân loại mà không cần bận tâm tới khoảng cách địa lý. Chẳng hạn như những nhân viên y tế ở vùng sâu vùng xa có thể dễ dàng cập nhật kỹ thuật y tế, kiến thức ngành mới nhất thông qua hệ thống internet.

Tương tự như vậy, bác sĩ ở quốc gia này cũng có thể cập nhật những thông tin mới, các công trình nghiên cứu giá trị của các nước tiên tiến.


CNTT giúp tự động hóa các phương tiện chẩn đoán và điều trị

Trong y học hiện đại, các loại máy móc thiết bị xét nghiệm đều được tự động hóa hoàn toàn, giúp nâng cao độ chính xác và giảm bớt thao tác khi làm xét nghiệm.

Song song với đó, các máy móc chẩn đoán hình ảnh cũng được trang bị ứng dụng kỹ thuật dựng hình nhằm thể hiện hình ảnh bệnh lý 3 chiều, phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị ngoại khoa. Kỹ thuật nội soi cũng là một bước tiến quan trọng giúp can thiệp điều trị bệnh hiệu quả, đồng thời tiết giảm chi phí...


Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội, các bệnh viện tại Việt Nam cũng đã và đang không ngừng trang bị thêm nhiều thiết bị y tế hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh như: Máy xét nghiệm tự động, X-quang kỹ thuật số, máy siêu âm 3D, 4D, PET-CT, máy chụp cắt lớp, cộng hưởng từ,...

Những thiết bị y tế này đã giúp hiệu quả chẩn đoán và điều trị bệnh tăng lên đáng kể, đồng thời góp phần đưa nền y tế Việt Nam đi lên, bắt kịp sự tiến bộ của nền y tế khu vực.


CNTT hỗ trợ đắc lực trong thực hành y khoa

CNTT là yếu tố mang lại rất nhiều lợi ích trong thực hành y khoa, điều này đã được thực tế chứng minh. Trong đó, lợi ích nổi bật nhất là giúp lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học; hỗ trợ y tế từ xa (telemedicine); giúp bác sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác; giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa...

CNTT giúp tăng cường chức năng quản lý bệnh viện

Với việc ứng dụng CNTT, cụ thể là ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện, các thông tin của bệnh viện đều được tổ chức, sắp xếp một cách khoa học và kiểm soát mọi thứ một cách dễ dàng, tạo cơ sở cở tốt cho hiệu quả công tác quản lý bệnh viện.

Toàn bộ thông tin của bệnh viện đều được tổ chức, sắp xếp một cách khoa học cũng như dễ dàng kiểm soát hơn. Bên cạnh đó, việc thống kê, báo cáo và quản lý các trang thiết bị - vật tư Y tế cũng rất thuận tiện và chính xác. 

Thực tế cho thấy, rất nhiều bệnh viện đã áp dụng thành công phần mềm quản lý bệnh viện và cho kết quả rất khả quan. Các khách hàng của Nanosoft như Bệnh viện phụ sản An ĐứcBệnh viện Đa khoa Hà Nội đều hài lòng về tiện ích mà giải pháp quản lý tổng thể bệnh viện Nano-Hospital đem lại.

Các quốc gia trên thế giới đều nhận thức rõ vai trò quan trọng của CNTT đối với sự phát triển mạnh mẽ của ngành y tế, do đó đã xây dựng các chương trình quốc gia về công nghệ thông tin y tế nhằm thích nghi với thời đại mới. Việt Nam đang trên đường hội nhập với thế giới, việc ứng dụng các CNTT tại các cơ sở khám chữa bệnh không còn xa lạ, nhưng với việc áp dụng phần mềm quản lý đã đem lại một làn gió mới cho ngành y tế nước nhà. 

Phần mềm quản lý bệnh viện NANO-Hospital tích hợp phân hệ quản lý đánh giá chất lượng bệnh viện theo Bộ Tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2016.

đăng 23:47, 12 thg 12, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Ngày 18/11/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 6859/QĐ-BYT ban hành các nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2016. Đây là hoạt động quan trọng, được Bộ Y tế, Sở Y tế, Y tế các Bộ, ngành và bệnh viện thực hiện hằng năm nhằm mục tiêu đánh giá các mặt hoạt động và nỗ lực cải tiến chất lượng trong năm 2016, làm căn cứ cho việc xác định vấn đề ưu tiên, xây dựng kế hoạch hoạt động và cải tiến chất lượng trong năm 2017, đáp ứng nhu cầu và sự hài lòng người bệnh ngày càng tăng.


Bộ Y tế sẽ lấy kết quả năm 2016 là mốc khởi điểm cho chu kỳ đánh giá cải tiến chất lượng cho 2 năm tiếp theo 2017 và 2018.

Nắm bắt được yêu cầu và chỉ đạo của Bộ Y tế, Nanosoft đã nhanh chóng thực hiện việc xây dựng, tích hợp phân hệ đánh giá chất lượng bệnh viện, khảo sát sự hài lòng người bệnh nội trú, ngoại trú, nhân viên y tế năm 2016 trên Phần mềm quản lý bệnh viện NANO-Hospital theo đúng Bộ Tiêu chí của Bộ Y tế.

Hiện tại, phân hệ đánh giá chất lượng bệnh viện đang trong thời gian chạy thử nghiệm và chỉnh sửa một số lỗi nhỏ để hoàn thiện sản phẩm nhằm đảm bảo khi đưa vào sử dụng chính thức trong thời gian tới phân hệ hoạt động ổn định và mang lại hiệu quả, sự tiện ích cho người sử dụng

Bộ Tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2016: Hội nghị hướng dẫn kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế.

đăng 23:45, 12 thg 12, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Chiều ngày 24 tháng 11 năm 2016, Cục Quản lý Khám chữa bệnh tổ chức Hội nghị hướng dẫn kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế năm 2016. PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã phát biểu và chủ trì Hội nghị.
 

Hội nghị còn có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các Vụ, Cục, Viện, Sở Y tế, Bệnh viện trực thuộc khu vực phía Bắc.

Phát biểu tại Hội nghị, PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện là hoạt động quan trọng, được Bộ Y tế, Sở Y tế, Y tế các Bộ, ngành và bệnh viện thực hiện hằng năm nhằm mục tiêu đánh giá các mặt hoạt động và nỗ lực cải tiến chất lượng trong năm 2016, làm căn cứ cho việc xác định vấn đề ưu tiên, xây dựng kế hoạch hoạt động và cải tiến chất lượng trong năm 2017, đáp ứng nhu cầu và sự hài lòng người bệnh ngày càng tăng.

Ngày 18/11/2016, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định số 6858/QĐ-BYT ban hành Bộ Tiêu chí chất lượng Việt Nam. Điểm nổi bật là sau 3 năm triển khai thí điểm, đến nay Bộ Tiêu chí chất lượng bệnh viện đã được Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến ký quyết định “chính thức” trở thành Bộ công cụ đánh giá chất lượng bệnh viện, áp dụng chung cho tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh ở Việt Nam.

Bộ Tiêu chí đánh giá chất lượng năm 2016 vẫn tiếp tục duy trì 83 Tiêu chí chất lượng Bệnh viện. Tuy nhiên, những tiểu mục đánh giá được nâng cao thêm để làm mục tiêu và căn cứ để chất lượng các bệnh viện càng ngày càng đi vào thực chất hơn.

Theo PGS.TS Lương Ngọc Khuê: “quan điểm chủ đạo của Bộ Tiêu chí là lấy người bệnh là trung tâm của hoạt động điều trị và chăm sóc, nhân viên y tế là then chốt của toàn bộ hoạt động khám, chữa bệnh”. Mục tiêu của Bộ Tiêu chí là khuyến khích, định hướng và thúc đẩy các bệnh viện tiến hành các hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng nhằm cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và đem lại sự hài lòng cho người bệnh, người dân và nhân viên y tế, đồng thời phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội đất nước. Bộ Tiêu chí cũng là công cụ để cơ quan quản lý hướng dẫn bệnh viện triển khai các hoạt động cải tiến chất lượng theo Thông tư số 19/2013/TT-BYT và là căn cứ để bệnh viện triển khai các hoạt động đánh giá chất lượng nhằm cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả, mang lại sự hài lòng cao nhất cho người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế. Nếu áp dụng sai quan điểm, mục đích của Bộ tiêu chí sẽ không xác định được thực trạng chất lượng, không biết điểm mạnh, yếu ở đâu, dẫn đến hệ quả không xác định được hoặc xác định sai vấn đề cần ưu tiên để cải tiến chất lượng. Về mặt lâu dài, chất lượng bệnh viện sẽ ngày càng giảm đi, người bệnh đến ngày càng ít hơn, nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn tại của bệnh viện.

Theo kế hoạch kiểm tra, các bệnh viện sẽ tự kiểm tra và đánh giá trong tháng 11 và tuần thứ nhất của tháng 12/2016. Các cơ quan quản lý sẽ tổ chức, kiểm tra đánh giá sau khi các bệnh viện giá.

Nắm bắt được yêu cầu và chỉ đạo của Bộ Y tế, Nanosoft đã thực hiện việc xây dựng, tích hợp phân hệ đánh giá chất lượng bệnh viện, khảo sát sự hài lòng người bệnh nội trú, ngoại trú, nhân viên y tế năm 2016 trên Phần mềm quản lý bệnh viện NANO-Hospital theo đúng Bộ Tiêu chí của Bộ Y tế.

10 tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng một phần mềm quản lý

đăng 02:30, 2 thg 12, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Với kinh nghiệm gần 10 năm xây dựng và triển khai các giải pháp phần mềm quản lý y tếphần mềm quản lý Spa - Thẩm Mỹ Viện, chúng tôi rút ra được 10 tiêu chuẩn quan trọng sau có thể giúp bệnh viện, phòng khám và Spa - TMV có thể căn cứ vào đó để biết khá rõ chất lượng một phần mềm.


1. Tốc độ đáp ứng vẫn nhanh sau 3 năm:

Hầu hết trên 90% các phần mềm quản lý tại Việt Nam đều trở nên chậm chạp sau một năm sử dụng. Bạn phải yêu cầu nhà cung cấp phần mềm chứng minh điều này bằng những dẫn chứng cụ thể mà bạn có thể thấy ngay được ( VD: Một sản phần mềm nào đó của họ đã sử dụng được sau 3 năm mà vẫn chạy nhanh tại một công ty lớn). 

2. Tính ổn định:

Nếu như một phần mềm quản lý đang vận hành mà thường phát sinh lỗi làm đứng hệ thống thì thiệt hại mà công ty bạn phải trả có khi lớn hơn cả chi phí mua phần mềm đó. Do vậy, điều quan trọng là bạn phải biết được phần mềm bạn mua đã được kiểm tra lỗi kỹ qua việc triển khai tại nhiều công ty chưa? Nếu phần mềm bạn mua là phần mềm thương mại hóa thì việc bạn yêu cầu được xem một số hợp đồng của nhà cung cấp đã triển khai cho các công ty khác là có thể được để chắc chắn điều nhà cung cấp cam kết có thực hay không?  

3. Bản quyền phần mềm:

Hãy yêu cầu nhà cung cấp cho bạn xem giấy đăng ký sở hữu trí tuệ của phần mềm mà bạn dự định mua để bảo đảm rằng đó không phải là phần mềm ăn cắp từ những công ty khác và các công nghệ dùng để phát triển nó là hợp pháp.

4. Các tiện ích:

Một phần mềm nghèo nàn tiện ích sẽ làm cho bạn rất bực mình trong quá trình sử dụng vì bạn thấy mình phải làm rất nhiều thao tác mà lẽ ra phần mềm có thể làm thay. Hãy yêu cầu nhà cung cấp giới thiệu rõ những tiện ích của phần mềm bạn dự định mua. Trong lúc nghe giới thiệu, bạn hãy để ý những tiện ích cần phải có căn cứ theo kinh nghiệm mà bạn đã dùng các phần mềm khác. Hãy mạnh dạn yêu cầu thêm cho dù bạn cảm thấy chưa chắc cần để xem nhà cung cấp giải thích ra sao.

5. Giao diện:

Giao diện hòa nhã thân thiện làm cho User có thể làm việc lâu trên phần mềm mà không bị mỏi mắt cũng là một tiêu chí rất quan trọng để chọn mua một phần mềm.

6. Khả năng bảo mật:

Hãy yêu cầu nhà cung cấp nêu rõ khả năng bảo mật của hệ thống và những chứng minh cụ thể đi kèm( VD: Mã hóa Password sử dụng công nghệ gì? Hệ thống có cho phép dò lại tất cả các lần truy cập của các User hay không? )

7. Chất lượng bảo hành:

Hãy yêu cầu rõ và đưa vào hợp đồng nếu bạn quyết định mua các điều khoản cụ thể về bảo hành. Thông thường khi phát sinh lỗi phần mềm doanh nghiệp phải xử lý xong trong vòng 6 tiếng. Thời hạn tối đa cho phép là 24 giờ.

8. So sánh với các phần mềm khác:

Hãy yêu cầu nhà cung cấp so sánh phần mềm của họ với những phần mềm cùng loại của các công ty khác, thậm chí là công ty nước ngoài.

9. Khả năng phát triển mở rộng:

Một phần mềm tốt luôn phải có kế hoạch phát triển và nâng cấp tính năng mới liên tục. Hãy yêu cầu nhà cung cấp nêu rõ kế hoạch phát triển những tính năng mới trong tương lai gần.

10. Khả năng phân quyền:

Phần mềm bạn mua nếu được sử dụng cho User khác nhau thì khả năng phân quyền uyển chuyển là rất quan trọng. Nó cho phép bạn xác định quyền hạn truy cập và tài nguyên của từng User tùy theo quyền hạn và trách nhiệm của người đó.

Với 10 tiêu chí trên, chúng tôi hi vọng bạn sẽ lựa chọn cho mình được một phần mềm ưng ý để phát triển công việc kinh doanh.

Chúc thành công!!!

Những lợi ích của Giải pháp lưu trữ và truyền hình ảnh y khoa PACS

đăng 00:41, 24 thg 11, 2016 bởi NANOSOFT jsc

PACS viết tắt của Picture Archiving and Communication Systems - hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh. Trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh y khoa, PACS đã được phát triển nhằm để cung cấp khả năng truy xuất nhanh chóng và lưu trữ kinh tế nhất. PACS mang lại nhiều lợi ích cả về kinh tế lẫn kỹ thuật; PACS tăng hiệu quả cho việc điều trị lên rất cao mà chi phí lại giảm. Sau mỗi lần chụp phim, bệnh nhân không cần ngồi chờ lấy kết quả, bác sĩ cũng không còn loay hoay với tấm phim để xem.
 

1. PACS gồm những gì?

PACS bao gồm ít nhất bốn thành phần chính:

-  Các phương thức tạo hình ảnh như CT, MRI, X-quang số, siêu âm...

-  Một mạng máy tính an toàn cho việc truyền tải thông tin bệnh nhân.

-  Các máy tính trạm để xem, tối ưu hình ảnh, viết báo cáo và điều khiển thiết bị.

-  Trung tâm dữ liệu để lưu trữ và cho phép truy cập với tính năng bảo mật.

2.  PACS được dùng để làm gì?

PACS có bốn ứng dụng chính:

- Lưu trữ và thay thế cho giấy hoặc phim dùng trong y khoa, tiết kiệm rất nhiều do chi phí cho việc lưu trữ dữ liệu số trên máy tính hoặc đĩa CD/DVD rẻ hơn.

- Truyền dữ liệu và thực hiện việc chẩn đoán từ xa, đào tạo từ xa, mở rộng khả năng xem và báo cáo từ xa. Các bác sĩ đang làm việc tại nhiều vị trí địa lý khác nhau có thể cùng truy cập đồng thời vào cùng một tập tin hình ảnh. (Teleradiology - Telemedicine)

- Kết hợp với các hệ thống điện tử khác như HIS (Hospital Information System – Hệ thống thông tin bệnh viện), RIS (Radiology Information System – Hệ thống thông tin chẩn đoán hìnhảnh), EMR (Electronic Medical Record – Bệnh án điện tử), Hospital Management Software (Phần mềm quản lý bệnh viện).

- Quản lý quy trình và lịch trình khám của bệnh nhân ở khoa chẩn đoán hình ảnh. Thời gian, số lần chụp phim, xét nghiệm, lịch hẹn được quản lý chặt chẽ.

 

3. PACS mang lại lợi ích gì?

PACS mang lại nhiều lợi ích cả về kinh tế lẫn kỹ thuật:

-  Dữ liệu hình ảnh gắn liền với thông tin liên quan đến bệnh nhân có thể được nhiều chuyên gia, bác sĩ truy cập đồng thời trên máy tính một cách dễ dàng. Điều này loại bỏ việc dùng phim, giấy tờ, giảm bớt không gian lưu trữ, tổ chức quản lý tài liệu, nhân sự và thời gian truy lục, giảm bớt thời gian gửi hồ sơ bệnh nhân đi giữa các phòng - ban, giữa chi nhánh - trung tâm, giữa bệnh viện - bệnh viện. Do đó PACS tăng hiệu quả cho việc điều trị lên rất cao mà chi phí lại giảm.

-  Sau mỗi lần chụp phim, bệnh nhân không cần ngồi chờ lấy kết quả, bác sĩ cũng không còn loay hoay với tấm phim để xem. Mọi chuyện diễn ra chớp nhoáng, vì ngay sau khi chụp, mọi hình ảnh được số hóa và lưu trữ ở dạng 2 chiều, 3 chiều với chất lượng cực tốt. Chỉ cần cung cấp mã số bệnh nhân hoặc một số thông tin như họ tên, ngày sinh là bác sĩ có thể xem kết quả bất kỳ lúc nào trên mọi máy tính có liên kết PACS. Ngoài ra khi cần thiết dữ liệu hình ảnh, báo cáo của bác sĩ, hồ sơ bệnh án có thể được đóng gói ghi vào đĩa CD/DVD hoặc gửi qua email dễ dàng, mở lên trên mọi máy tính.

Trên đây là tất cả những thông tin về Giải pháp lưu trữ và truyền hình ảnh y khoa PACS mà Nanosoft đã tổng kết lại được sau gần 10 năm phát triển và triển khai tại các cơ sở y tế trên cả nước. Hi vọng, qua bài viết này các bạn sẽ hiểu rõ hơn về các tính năng cũng như lợi ích mà PACS mang lại.

Nếu Quý khách có nhu cầu triển khai và tìm hiểu kỹ hơn về Giải pháp lưu trữ và truyền hình ảnh y khoa PACS, hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin sau:

Phòng kinh doanh - Công ty cổ phần công nghệ Nanosoft

Văn phòng: P. 1505 - Tòa nhà HH1 - Khu đô thị Yên Hòa - CG - HN.

Điện thoại: 046 281 2184 - Hotline: 094 797 6660

Email: info@nanosoft.vn - Website: www.nanosoft.com.vn; www.nanosoft.vn ; www.quanlybenhvien.vn

Công văn số 4450/BHXH-CSYT ngày 07/11/2016 của BHXH Việt Nam về việc triển khai Hệ thống thông tin giám định BHYT

đăng 20:26, 23 thg 11, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Ngày 07/11/2016, BHXH Việt Nam có Công văn số 4450/BHXH-CSYT về việc triển khai Hệ thống thông tin giám định BHYT, nội dung cụ thể như sau:

 Kính gửi:


- Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Công an nhân dân;

- Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến khu vực phía Bắc;

- Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến khu vực phía Nam.

(Sau đây gọi chung là BHXH các tỉnh)

Thời gian qua, BHXH các tỉnh đã tích cực phối hợp với Sở Y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) chuẩn hóa danh mục dịch vụ y tế, kết nối, liên thông dữ liệu phục vụ quản lý khám, chữa bệnh và thanh toán BHYT. Hiện tại, BHXH các tỉnh cơ bản đã hoàn thành chuẩn hóa danh mục dịch vụ y tế tại tỉnh và tại cơ sở khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, tại một số tỉnh việc kết nối liên thông dữ liệu đạt thấp, nhiều cơ sở khám, chữa bệnh chưa thực hiện việc gửi dữ liệu lên Cổng tiếp nhận của Hệ thống thông tin giám định BHYT ngay khi người bệnh ra viện, dữ liệu điện tử gửi giám định chỉ đạt khoảng 70% số hồ sơ thực tế. Để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý khám, chữa bệnh và thanh toán BHYT qua Hệ thống thông tin giám định BHYT, BHXH Việt Nam yêu cầu BHXH các tỉnh thực hiện ngay các nội dung sau:

1. Hằng ngày, kết xuất từ Hệ thống thông tin giám định BHYT các báo cáo thống kê tình hình liên thông dữ liệu, danh sách cơ sở khám, chữa bệnh không gửi dữ liệu lên Cổng tiếp nhận, gửi Sở Y tế và cơ sở khám, chữa bệnh BHYT; thường xuyên báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT nghiêm túc thực hiện việc kết nối liên thông dữ liệu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tin học hóa trong khám, chữa bệnh BHYT theo Thông báo số 152/TB-VPCP ngày 24/6/2016 của Văn phòng Chính phủ.

2. Yêu cầu các cơ sở khám, chữa bệnh cập nhật danh mục dịch vụ y tế đã chuẩn hóa theo danh mục dùng chung vào phần mềm quản lý khám, chữa bệnh của đơn vị, kết xuất đầy đủ dữ liệu đề nghị thanh toán BHYT từ quý 3/2016 gửi cơ quan BHXH theo hướng dẫn tại Công văn số 2723/BHXH-CSYT ngày 21/7/2016 của BHXH Việt Nam về việc hướng dẫn gửi dữ liệu điện tử đến Hệ thống thông tin giám định BHYT. Dữ liệu điện tử hồ sơ chi tiết, hồ sơ tổng hợp gửi qua Hệ thống thông tin giám định BHYT phải trùng khớp với số liệu tại Bảng tổng hợp đề nghị thanh toán BHYT (mẫu 79a,80a-HD ban hành kèm theo Thông tư số 178/2012/TT-BTC ngày 23/10/2012 của Bộ Tài chính) và là cơ sở để giám định, tạm ứng, thanh quyết toán BHYT.

3. Thực hiện việc giám định, quyết toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT trên Phần mềm giám định BHYT theo lộ trình như sau:

- Áp dụng với tối thiểu 30% cơ sở khám, chữa bệnh BHYT ở tất cả các tuyến trên địa bàn tỉnh đối với hồ sơ đề nghị thanh toán trong quý 4/2016, so sánh với phương pháp giám định đang thực hiện để đánh giá, rút kinh nghiệm.

- Áp dụng ở tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT đối với hồ sơ đề nghị thanh toán BHYT từ quý I/2017.

4. BHXH các tỉnh chưa hoàn thành việc giám định danh mục dịch vụ y tế tại các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT phải hoàn thành trước ngày 10/11/2016.

Giám đốc BHXH tỉnh chịu trách nhiệm về kết quả, tiến độ thực hiện và là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm 2016 của đơn vị. Yêu cầu Bảo hiểm xã hội các tỉnh khẩn trương thực hiện, báo cáo kết quả giám định quý 4/2016 trên Phần mềm giám định BHYT về BHXH Việt Nam trước ngày 10/01/2017.

Với sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam. Nanosoft đã thực hiện kết nối liên thông dữ liệu về tin học hóa trên 
phần mềm quản lý bệnh viện NANO Hopital trong KCB BHYT giữa cơ quan BHXH và cơ sở y tế nhằm thực hiện giám định, quyết toán chi phí KCB BHYT trên phần mềm giám định BHYT đảm bảo thực hiện nhanh chóng, kịp thời theo chỉ đạo của BHXH./.

Để tải về đầy đủ nội dung công văn và các phụ lục đi kèm, các bạn hãy click truy cập vào webiste mới của nanosoft theo đường link: 
http://nanosoft.com.vn/van-ban-phap-quy.htm và click vào nút download ở dưới tiêu đề mỗi bài viết nhé!
 

Đổi mới mô hình quản lý bệnh viện công lập

đăng 20:50, 18 thg 11, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Chủ trương thí điểm để bệnh viện công thuê giám đốc điều hành (CEO) của Bộ Y tế đang thu hút sự chú ý của dư luận. Cách làm này được kỳ vọng sẽ tạo tính minh bạch và hiệu quả trong việc điều hành bệnh viện công, tháo gỡ nhiều bất cập nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, song theo một số chuyên gia, để hiện thực hóa điều này hiện vẫn còn nhiều rào cản về cơ chế chính sách và nhận thức.
 
Từ nhu cầu đổi mới bệnh viện
 
Theo dự thảo Nghị định quy định cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập với việc đổi mới bộ máy quản lý ở các cơ sở y tế tự chủ về tài chính hiện đang được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi, cùng với đổi mới về tài chính y tế (tự chủ tài chính), bệnh viện công sẽ tự chủ về tổ chức bộ máy. Các nhóm tự chủ tài chính đều hoạt động theo mô hình thành lập hội đồng quản lý gồm: tổng giám đốc và các giám đốc điều hành (với các đơn vị do Trung ương quản lý) hoặc giám đốc và các phó giám đốc (các đơn vị do địa phương quản lý).
 
Cùng với việc hoàn thiện nội dung Nghị định, Bộ Y tế cho biết sẽ thí điểm để bệnh viện công thuê giám đốc điều hành (CEO) không cần phải là giáo sư, tiến sĩ y khoa, mà cần giỏi về quản lý y tế và điều hành. Theo đó, thay vì các giám đốc yêu cầu phải có học hàm và học vị (tùy hạng cơ sở y tế, như bệnh viện tuyến trung ương yêu cầu giám đốc phải có học vị tiến sĩ), Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, Bộ sẽ thí điểm việc thuê giám đốc chuyên nghiệp điều hành bệnh viện nhằm tạo tính minh bạch và hiệu quả trong bệnh viện công; thay những nhà chuyên môn bằng nhà quản lý chuyên nghiệp nhằm tạo một bước tiến đột phá nâng cao chất lượng bệnh viện, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, đồng thời trả lại cho các bác sĩ có chuyên môn giỏi về đúng vai trò của mình.
 
 
CEO bệnh viện phải là người có khả năng quy tụ được những người giỏi, thiết kế được một đội ngũ khám, chữa bệnh chất lượng mang lại lợi ích cho người bệnh. Ảnh minh họa

Việc thuê CEO điều hành, được coi là một phương thức đổi mới bệnh viện công trong thời gian tới. Nhìn vào thực tế, hiện nay hầu hết các giám đốc bệnh viện công lập là những người giỏi chuyên môn y khoa, sau quá trình làm việc, phấn đấu qua các vị trí quản lý từ phó, trưởng khoa, lên phó giám đốc và được bổ nhiệm giữ vị trí giám đốc bệnh viện. Chính vì vậy, hầu hết giám đốc bệnh viện là người giỏi chuyên môn nhưng ít được đào tạo bài bản về khả năng quản lý, điều hành hoạt động của bệnh viện nên đa phần đều gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý nói chung, quản trị bệnh viện nói riêng. Từ đó xuất hiện nhiều bất cập trong quản trị nguồn lực con người, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị bệnh viện, biểu hiện ở việc chất lượng dịch vụ kém, hoạt động bệnh viện thiếu tính chuyên nghiệp. Minh chứng rõ nhất của việc yếu kém trong quản lý chính là tình trạng quá tải bệnh viện, thái độ chưa phù hợp của một số nhân viên y tế với bệnh nhân và người nhà, lạm dụng xét nghiệm, chụp chiếu, mất an ninh trật tự, bảo vệ lộng hành… tồn tại phổ biến ở các sở y tế công lập.
 
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho các bệnh viện công lập hiện nay là cần nâng cao trình độ tổ chức các hoạt động nhằm cung ứng cho khách hàng những dịch vụ có chất lượng tốt hơn. Điều này liên quan trực tiếp đến năng lực quản trị của những người đứng đầu bệnh viện.
 
Đến những trở ngại, thách thức
 
Theo phân tích của nhiều chuyên gia, chủ trương mới này của Bộ Y tế hiện đang vướng các quy định hiện hành. Bác sĩ Võ Xuân Sơn, Phòng khám Đa khoa quốc tế Exson (TP Hồ Chí Minh) nêu quan điểm, Bộ Y tế chỉ thể hiện quyết tâm thí điểm thuê CEO là chưa đủ, mà còn phải có bản lĩnh để vượt qua những trở ngại về quy trình bố trí cán bộ mới có thể tìm được những CEO giỏi, đặt họ vào đúng vị trí với đầy đủ quyền hạn. Phân tích về thực tế này, ông Phạm Văn Tác, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Bộ Y tế cho rằng, quy định hiện nay khi bổ nhiệm cán bộ vẫn phải trải qua các khâu giới thiệu, lấy phiếu tín nhiệm từ cấp cơ sở, thước đo bằng cấp, chuyên ngành…, như vậy sẽ rất khó nếu thay đổi hình thức bổ nhiệm lãnh đạo bệnh viện sang hình thức thuê CEO. “Do vậy để chủ trương thí điểm thuê CEO thực hiện trong thực tế cần sự ủng hộ của Bộ Nội vụ trong việc lược bớt quy trình, quy định bổ nhiệm CEO bệnh viện”, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ nói.
 
Ngoài ra, theo bác sĩ Võ Xuân Sơn, việc thuê CEO chỉ có thể được thực hiện khi bệnh viện được tự chủ, song thực tế hiện chỉ khoảng 10 bệnh viện trong tổng số hơn 100 bệnh viện công lập đang hoạt động ở Việt Nam tự chủ, đây cũng là lực cản lớn cho chủ trương thuê CEO bệnh viện.
 
Thay đổi tư duy để tháo gỡ rào cản
 
Để khắc phục những rào cản, tạo điều kiện cho chủ trương thuê CEO được triển khai trong thực tế, nhiều chuyên gia cho rằng, trước tiên cần thay đổi cách quản trị ngành y tế của Nhà nước, thay đổi nhận thức của ngành y tế về quản trị bệnh viện, thay đổi cấu trúc quản lý bệnh viện, thay đổi nhận thức của xã hội và đặc biệt là thay đổi thước đo giá trị đối với nhân sự bệnh viện. Trong đó, điều cần thiết phải tiến hành trước nhất là phải thay đổi về tư duy, cần phải xem bệnh viện là một doanh nghiệp (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh) và người đứng đầu bệnh viện là một nhà quản lý. Ngược lại, nếu vẫn duy trì tư duy về bệnh viện với cơ chế xin - cho và giám đốc bệnh viện như lâu nay thì thuê CEO sẽ không khả thi.
 
Bác sĩ Nguyễn Trung Cấp, Phụ trách Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đề xuất, có thể vận hành hoạt động của bệnh viện theo cơ chế một tập đoàn, đứng đầu là chủ tịch Hội đồng quản trị, bên dưới là các giám đốc phụ trách chuyên môn, hành chính, nhân sự, kinh tế. Vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ như nhạc trưởng, tạo dựng và duy trì môi trường hoạt động y tế hiệu quả và chuyên nghiệp, giảm tình trạng quá tải và mang tới chất lượng phục vụ tốt cho bệnh nhân.
 
Còn theo quan điểm của GS Nguyễn Lân Việt, Giám đốc Viện Tim mạch Quốc gia, nên chọn bệnh viện nhỏ để thí điểm thuê CEO, qua đó đánh giá hiệu quả, rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng. Trong ngành y tế hiện nay, nhiều người làm chuyên môn giỏi và quản lý cũng giỏi. Bằng chứng là các bệnh viện vẫn phát triển, nâng quy mô. “Nếu CEO của bệnh viện mà không hiểu về ngành y thì có khi lại là nguyên nhân gây sự cố. Do đó, rất cẩn trọng để bảo đảm chủ trương thuê, tuyển CEO. Bởi bản thân giám đốc dù tâm huyết cỡ nào, kiến thức cỡ nào mà ê-kíp quản lý bên dưới không hiểu, không nắm bắt, không cùng làm thì cũng… như không. Vì vậy giám đốc bệnh viện phải tác động làm sao để nhân viên làm việc trực tiếp với người bệnh phải thật sự xem họ là khách hàng mới thành công được”, GS Nguyễn Lân Việt nêu rõ.
 
Theo ý kiến của một số chuyên gia trong ngành y, việc thuê CEO cho bệnh viện công nếu triển khai cần phải thay đổi cơ cấu tổ chức của bệnh viện. Chẳng hạn như, dưới CEO cần có các giám đốc chuyên môn, quản trị, tổ chức, tài chính... Còn nếu để nguyên cơ cấu, tổ chức bệnh viện công như hiện nay rồi thuê CEO thì sẽ rất khó điều hành công việc. Mặt khác, cũng có thể chọn những bác sĩ có năng lực về quản lý để đào tạo CEO cho bệnh viện công, khi đó, CEO vừa nắm rõ về chuyên môn y khoa vừa giỏi quản lý. Điều cần quan tâm, bệnh viện công hoạt động theo cơ chế nhà nước, đặc biệt là bảo đảm về chăm sóc sức khỏe cho người dân, thực hiện chính sách an sinh. Do vậy, nếu CEO chỉ tập trung vào tính hiệu quả, sinh lời cho bệnh viện sẽ làm mất ý nghĩa chính trị của bệnh viện công lập.
 
Thiết nghĩ, thương hiệu của một bệnh viện muốn được khẳng định phải dựa vào đội ngũ các bác sĩ có chuyên môn giỏi, tận tâm với người bệnh. Vậy nên CEO bệnh viện phải là người có khả năng quy tụ, thiết kế được một đội ngũ thầy thuốc khám chữa bệnh chất lượng. Tuy nhiên, CEO của bệnh viện có tạo ra được các giá trị tốt cho ngành y tế hay không còn phụ thuộc vào việc cơ quan chức năng mạnh dạn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để định hình một dịch vụ quản lý mới mang lại lợi ích cho người bệnh.

Quỹ BHYT có nguy cơ mất cân đối sau 2018

đăng 20:47, 18 thg 11, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Ngày 11-11, tại Đà Nẵng, Ban Kinh tế Trung ương và Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam tổ chức hội thảo về bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân tại Việt Nam với sự tham dự của đại diện 15 tỉnh, TP trong cả nước.

38 địa phương bội chi quỹ BHYT

Tại hội thảo, BHXH Việt Nam cho hay đến hết tháng 6-2016, số người tham gia BHYT là 72,81 triệu người, đạt tỉ lệ bao phủ 79% dân số. Hiện nay, chi phí khám chữa bệnh của đối tượng tham gia BHYT chiếm 70%-90% nguồn thu của các bệnh viện, cơ bản bảo đảm các chi phí trực tiếp để phục vụ người bệnh và hoạt động của bệnh viện.

Tuy nhiên, trong chín tháng đầu năm 2016, đã có 38 địa phương bội chi quỹ với số tiền gần 6.000 tỉ đồng. Dự kiến năm 2016, quỹ BHYT sẽ bội chi trên 7.000 tỉ đồng. Nếu không có điều chỉnh, quỹ BHYT có nguy cơ mất cân đối sau năm 2018.

 

Theo ông Phạm Văn Lại, Giám đốc BHXH tỉnh Quảng Nam, thực tế về mất cân đối quỹ khám chữa bệnh BHYT của Quảng Nam trong những năm vừa qua và đặc biệt trong chín tháng đầu năm 2016 là bài toán khó trong vấn đề quản lý quỹ khám chữa bệnh BHYT.

Ngoài ra, lãnh đạo Bộ Y tế, BHXH Việt Nam cũng cho rằng có hiện tượng trục lợi trong quỹ BHYT. Công tác giám định, đánh giá việc chỉ định điều trị nhiều bất cập về nguồn nhân lực và năng lực của giám định viên còn hạn chế.

Công - tư: Bên trọng, bên khinh

Ông Nguyễn Văn Đệ, Chủ tịch Hiệp hội Bệnh viện tư nhân Việt Nam, cho hay trong suy nghĩ, nhận thức của một bộ phận những người thực thi công vụ còn có sự phân biệt, đối xử đối với y tế tư nhân. Nhiều người vẫn còn quan niệm: Y tế tư nhân là lĩnh vực “kinh doanh bệnh tật”, chỉ vì mục tiêu lợi nhuận thuần túy. Từ quan điểm lệch lạc đó dẫn đến việc xây dựng, ban hành, thực hiện các cơ chế chính sách không phù hợp. Thậm chí một số chính sách lại trở thành rào cản cho sự phát triển của khối y tế này.

Ông Đệ cho rằng về bản chất, mối quan hệ giữa cơ quan BHXH và cơ sở khám chữa bệnh tư nhân là... quan hệ đối tác. “Tuy nhiên, do đồng thời là cơ quan quản lý quỹ BHYT nên mối quan hệ giữa cơ quan BHXH với cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trở thành quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Nếu không có những chế tài đủ mạnh để giám sát chặt chẽ quỹ BHYT, rất dễ nảy sinh tiêu cực, lợi ích nhóm, cơ chế xin - cho” - ông Đệ nhấn mạnh.

Theo ông Đệ, khoảng 41% giám định BHYT không được đào tạo về lĩnh vực y tế đang gây ra rất nhiều khó khăn, phiền hà cho y tế tư. Nhiều vấn đề chuyên sâu về y tế, nhân viên giám định không hiểu biết đầy đủ dẫn đến việc xuất toán sai, không hợp lý, gây bức xúc cho bác sĩ, nhân viên y tế, bệnh viện. Thậm chí có chỉ đạo “ngầm” của cơ quan BHXH đối với nhân viên giám định về chỉ tiêu xuất toán.

Đặc biệt, cùng một lỗi vi phạm, thậm chí vi phạm nhẹ hơn so với cơ sở khám chữa bệnh nhà nước nhưng cơ sở khám chữa bệnh tư nhân luôn bị xử lý nặng hơn. Theo ông Đệ, kết quả kiểm tra cho thấy sự chênh lệch chi phí sai quy định giữa cơ sở khám chữa bệnh nhà nước và cơ sở khám chữa bệnh tư nhân tại Thanh Hóa rất lớn (khoảng 47,2 tỉ đồng/bảy bệnh viện công so với khoảng 10,6 tỉ đồng/bảy bệnh viện tư). Việc yêu cầu các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân cam kết mức trần khám chữa bệnh bình quân là một dạng “giấy phép con” cần loại bỏ.

 
Sưu tầm

Giai đoạn 2016-2020: Nhân rộng và phát triển mô hình bác sĩ gia đình

đăng 03:27, 3 thg 11, 2016 bởi NANOSOFT jsc

Vừa qua, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch nhân rộng và phát triển mô hình bác sĩ gia đình (BSGĐ) giai đoạn 2016 - 2020. Tham dự hội nghị có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh Đinh La Thăng; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Văn Tiên; GS Akdag Recep, nguyên Bộ trưởng Y tế Thổ Nhĩ Kỳ và lãnh đạo các đơn vị y tế.

Triển khai từ năm 2013 tại 6 tỉnh thành, đến nay Việt Nam đã có 240 phòng khám BSGĐ. Các phòng khám này đã thực hiện 3.812 ca cấp cứu, khám chữa bệnh cho 807.720 lượt, phẫu thuật 12.024 ca, chuyển tuyến 14.440 ca, khám bệnh tại nhà hơn 3.094 ca và hơn 10.000 cuộc tư vấn... Tại TP.HCM, có 20/23 bệnh viện (BV) quận, huyện; 136/139 trạm y tế phường - xã thuộc các quận, huyện thành lập phòng khám BSGĐ và 4 phòng khám BSGĐ tư nhân; tổng số lượt khám bệnh tại các phòng khám BSGĐ là 652.261 ca, xét nghiệm 135.370 ca.

Việc nhân rộng và phát triển phòng khám bác sĩ gia đình sẽ được thực hiện trên phạm vi toàn quốc theo lộ trình để đảm bảo đến hết năm 2020 có ít nhất 80% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai mô hình; 80% bác sĩ tham gia khám, chữa bệnh tại trạm y tế tuyến xã (tương đương 9.000 bác sĩ) được đào tạo định hướng y học gia đình; 100% phòng khám bác sĩ gia đình ứng dụng phần mềm tin học quản lý hoạt động và sử dụng hồ sơ quản lý sức khỏe điện tử… Kế hoạch cũng quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của 3 mô hình: phòng khám bác sĩ gia đình lồng ghép với trạm y tế xã, phòng khám bác sĩ gia đình tư nhân và phòng khám bác sĩ gia đình thuộc bệnh viện đa khoa nhà nước. Quy mô của các phòng khám bác sĩ gia đình này được xác định tùy thuộc vào mô hình bệnh tật ở địa phương, điều kiện nhân lực, trang thiết bị cơ sở vật chất cụ thể và mức độ bao phủ cụm dân cư. Khuyến khích mỗi phòng khám bác sĩ gia đình quản lý tối thiểu 500 hồ sơ quản lý sức khỏe người dân.

 

Phát biểu tại Hội nghị, Bí thư Thành ủy TP. Chí Minh Đinh La Thăng đánh giá cao mô hình BSGĐ là một mô hình chăm sóc sức khỏe người dân xuyên suốt, có hệ thống và đặc biệt giúp giảm tải các bệnh viện. Để mô hình này phát huy được hiệu quả, Bí thư Đinh La Thăng cho rằng: “ Cần cụ thể hơn các mục tiêu của mô hình, nhất là các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội cần có chỉ tiêu cụ thể về số lượng bác sĩ, số phòng khám bác sĩ gia đình, số người dân sẽ tham gia khám chữa bệnh tại các phòng khám bác sĩ gia đình, phải có lộ trình, đồng bộ các giải pháp, hoàn thiện cơ chế chính sách, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị". Bí thư Đinh La Thăng nhấn mạnh để phát triển mô hình BSGĐ, không chỉ riêng ngành y tế mà cần phải có sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương.

Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh đề nghị, Bộ Y tế nên báo cáo với Thủ tướng để chủ trì triển khai mô hình BSGĐ, qua đó, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, từ cấp tỉnh, thành phố đến quận – huyện và xã- phường phải thực sự vào cuộc, có như vậy mô hình này mới thành công. Bí thư Đinh La Thăng gửi gắm những trăn trở hiện nay của ngành Y tế TP. Hồ Chí Minh nói riêng, y tế cả nước nói chung ở 4 lĩnh vực gồm: Các biện pháp giảm tải bệnh viện; Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; Các biện pháp cải cách thủ tục khám chữa bệnh; Các biện pháp tăng cường, nâng cao chất lượng quản lý ngành Dược. Ông cũng cam kết Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tạo mọi điều kiện hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế để triển khai thành công và nhân rộng mô hình bác sĩ gia đình. Bí thư đánh giá đây là một giải pháp hết sức quan trọng để giảm tải cho bệnh viện, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

Theo GS Akdag Recep, tại Thổ Nhĩ Kỳ, người dân đến với BSGĐ năm đầu tiên được chỉ định BS, từ năm thứ hai họ được lựa chọn BS - điều này làm cho BS, điều dưỡng phải thay đổi cách phục vụ để giữ bệnh nhân. BS có hợp đồng với ngành y tế chi trả trên đầu bệnh nhân, tạo ra hiệu quả để BSGĐ giữ chân bệnh nhân. Nếu phòng khám BSGĐ đạt các chỉ tiêu (số lượng bệnh nhân...) thì BS sẽ được tăng lương, thưởng. “Đó là cách khuyến khích giúp tăng năng suất, hiệu quả làm việc và chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân”, GS Akdag Recep nói và cho rằng triển khai hệ thống BSGĐ cần triển khai từng tỉnh và đảm bảo độ bao phủ toàn dân trong tỉnh. Thổ Nhĩ Kỳ đã thành công sau khi đổi mới ngành y tế với mô hình BSGĐ (từ năm 2002).

Kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết: mô hình BSGĐ là hệ thống y tế cơ sở gần dân nhất, chăm sóc toàn diện và liên tục cho người bệnh, có mối quan hệ lâu dài và bền vững với người bệnh. BSGĐ là người biết rõ từng người bệnh trong hoàn cảnh và gia đình của họ, xem xét vấn đề sức khỏe của người bệnh trong hoàn cảnh của cộng đồng và lối sống của người đó trong cộng đồng. Mô hình hoạt động BSGĐ tại nước ta hiện nay là mô hình mới, chưa được quan tâm, đầu tư chưa tương xứng, nhiều hạn chế, bất cập và hiệu quả chưa cao. Xuất phát từ thực tiễn bước đầu tiếp cận mô hình BSGĐ ở nước ta và kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy nếu phát triển mô hình BSGĐ sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc ban đầu theo hướng toàn diện và liên tục, giúp sàng lọc bệnh tật, chuyển tuyến phù hợp, góp phần giảm quá tải bệnh viện tuyến trên. Bộ trưởng cho rằng BSGĐ phải quản lý được sức khỏe của bệnh nhân, của gia đình bệnh nhân. Khi bệnh nhân chuyển viện, BSGĐ sẽ liên hệ với hệ thống y tế tiếp nhận bệnh nhân để khi bệnh nhân đến đã có người đón. Đó là một trong những quyền lợi của người tham gia mô hình BSGĐ.

Bộ trưởng BộY tế mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, đồng hành của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và cơ quan báo chí truyền thông, cung cấp các thông tin về Hội nghị triển khai kế hoạch nhân rộng và phát triển mô hình BSGĐ giai đoạn 2016-2020 của ngành Y tế, để mô hình phòng khám BSGĐ thực sự đi vào cuộc sống, nhân rộng ra trên cả nước, từng bước góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ngay từ tuyến cơ sở.

 
Sưu tầm

1-10 of 84