Ứng dụng tin học trong công tác quản lý bệnh viện

đăng 01:17, 27 thg 11, 2011 bởi Mr Nguyên   [ đã cập nhật 20:53, 28 thg 1, 2016 ]
Ứng dụng tin học trong quản lý bệnh viện là một quy trình được sử dụng tại các nước tiên tiến từ nhiều thập kỷ qua. Việc sử dụng các phương tiện này giúp truy cập thông tin nhanh, hỗ trợ công tác chẩn đoán, thống kê và nghiên cứu khoa học của các chuyên khoa, giảm thiểu tài liệu lưu trữ hàng năm cho hệ thống bệnh viện.Tuy nhiên với hệ thống ứng dụng tin học vào bệnh viện tại TP.HCM còn non trẻ sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót cần bổ sung và hoàn chỉnh dần


Để xây dựng các chương trình ứng dụng tin học vào bệnh viện, ngoài các thông tin hành chính thông thường, từ năm 1997, theo chỉ đạo của Bộ Y Tế, Sở Y Tế TP. Hồ Chí Minh phát hành bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD-10 gồm 3 chữ số và hiện tại đã cập nhật thành 4 chữ số.

Ví dụ điển hình Bệnh viện A là một trong các Bệnh viện thuộc Sở Y tế Thành phố. Với chức năng khám và điều trị cho toàn thể nhân dân, đặc biệt Bệnh viện còn có nhiệm vụ hỗ trợ khoa học kỹ thuật cho tuyến dưới cũng như yêu cầu đặt ra của các Bệnh viện bạn trên khắp mọi miền đất nước. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay và nhằm từng bước nâng cao chất lượng trong công tác quản lý và điều trị bệnh nhân, ngay từ những năm 1997 – 2000 Ban Giám đốc Bệnh viện A đã có kế hoạch trang bị máy vi tính cho việc quản lý và điều trị bệnh nhân.

Việc xây dựng hệ thống công nghệ thông tin nhằm quản lý tổng thể một bệnh viện là hết sức quan trọng và cần thiết nhằm đưa hoạt động của bệnh viện vào mô hình quản lý chất lượng, thỏa mãn các mục tiêu và nhiệm vụ mà một bệnh viện chuyên ngành hạng 1 theo tiêu chuẩn Quốc tế cần phải có trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.

Trong bài viết này bằng phương pháp lý luận và phân tích tổng hợp tôi chỉ xin đề cập đến thực tế về việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý của Bệnh viện A, những tồn tại cơ bản và một số kiến nghị nhằm làm thế nào để công nghệ thông tin được thể hiện như là một phương pháp quản lý thông tin hữu hiệu, trên cơ sở đó chúng ta có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Việc làm này hết sức khó khăn, tuy nhiên hiệu quả mà công nghệ thông tin mang lại là vô cùng to lớn :

– Nâng cao chất lượng phục vụ bệnh nhân, bệnh nhân sẽ an tâm hơn khi vào bệnh viện mà nơi đây thông tin bệnh tật của mình được lưu trữ một cách cẩn thận và đây sẽ là thông tin quan trọng cho bác sĩ chẩn đoán bệnh chính xác, chế độ dùng thuốc có hiệu quả cho những lần khám bệnh sau này.

– Giảm thiểu tối đa sự phức tạp về mặt hành chánh trong bệnh viện, đảm bào nhanh chóng, chính xác ở từng khâu trong quy trình quản lý.

– Giúp Ban Giám đốc bệnh viện luôn nắm được thông tin chính xác về họat động của bệnh viện qua hệ thống các báo cáo từ tổng quát cho đến chi tiết. Từ đó Ban Giám đốc luôn có được các chính sách, quyết định linh hoạt, đúng đắn trong việc điều tiết phòng khám, giường bệnh, các thiết bị chẩn đoán cận lâm sàng cũng như vị trí làm việc của toàn thể nhân viên trong toàn bệnh viện.

* Thông tin bệnh nhân theo quy trình thông thường :

– Hành chính : Mã số bệnh nhân, Họ và tên, Tuổi, giới, Địa chỉ, Nghề nghiệp, Người liên hệ, Ngày vào viện – xuất viện.

– Bệnh sử : Tiền sử, Khám lâm sàng, Các xét nghiệm cận lâm sàng, Chẩn đoán, Điều trị, Tiên lượng.

– Tình trạng khi xuất viện, Dặn dò

* Xây dựng quy trình ứng dụng tin học vào bệnh viện :

1. Cơ sở lý luận :

Trong xu thế ngày càng đổi mới việc ứng dụng các công cụ vào công tác quản lý chuyên môn. Ngay từ những năm 1997 – 2000, Ban Giám đốc bệnh viện đã cho phép thành lập tổ vi tính và cử một số cán bộ trẻ có năng lực đi học thêm về vi tính, các phương pháp điều tra thống kê để có thể tiếp thu những thành tựu mới trong công tác chuyên môn và quản lý bệnh viện. Với số lượng bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện lên đến 1500 bệnh nhân mỗi ngày, việc quản lý kịp thời và chính xác là điều cần thiết được Ban Giám đốc quan tâm đặt lên hàng đầu.

Vào khoảng giữa năm 1999, bệnh viện đã được trang bị một máy vi tính đầu tiên loại 386-DX do sự tài trợ của tổ chức nước ngoài để quản lý chi phí điều trị. Đây là bước khởi đầu tuy có phần khiêm tốn, nhưng nó là cơ sở cho việc trang bị và hình thành hệ thống máy tính của bệnh viện sau này.

2. Hiện trạng:

a. Các thiết bị điều trị có bộ vi xử lý :

– Hệ thống máy xét nghiệm được trang bị các thiết bị lấy mẫu, phân tích tự động theo các chỉ tiêu đã được lập trình từ trước, cho phép trong vòng vài phút cho ra kết quả hằng trăm mẫu thử theo nhiều chỉ tiêu hóa – lý khác nhau.

– Hệ thống máy siêu âm có trang bị bộ xử lý cho phép lưu lại hình ảnh bệnh lý của bệnh nhân dưới dạng ảnh động, in kết quả ra giấy và lưu lại trên đĩa cứng. Trước đây các thế hệ đầu tiên dùng hình ảnh trắng đen – chưa có thiết bị lưu hình lại, sau đó được trang bị thêm loại máy siêu âm màu 2 chiều, 3 chiều, Doppler màu tăng hiệu quả chẩn đoán điều trị và phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học.

– Hệ thống máy nội soi với ưu tế thiết bị nhỏ gọn, gồm đầu dò gắn camera, được đưa vào cơ thể bệnh nhân qua đường miệng, điều khiển bằng tay, có truyền trực tiếp lên màn ảnh và kết nối vào máy vi tính. Hình ảnh bệnh lý của bệnh nhân được lưu vào đĩa cứng dạng Bitmap, in ra giấy, ghi ra đĩa video CD, nó cũng hỗ trợ tích cực cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.

– Hệ thống máy chụp cắt lớp điện toán, Cộng hưởng từ: đây là loại máy thế hệ mới cho kết quả rất tốt về các bộ phận trong cơ thể như: cơ, xương, khớp, não, gan, phổi, tim, dạ dày.... lưu trên phim và các dạng file hình ảnh (lưu trên đĩa cứng máy tính).

– Thiết bị mổ nội soi: là một tổ hợp gồm các camera thăm dò, thiết bị cắt đốt, gây tê-mê, hút dịch, máu, khâu... được máy tính điều khiển góp phần đáng kể vào việc điều trị ngoại khoa.

Nhìn chung các thiết bị kể trên có tác dụng đáng kể trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân, nhưng mỗi nơi, mỗi bộ phận quản lý riêng lẽ còn mang tính cục bộ và chưa tích hợp được vào hồ sơ bệnh án của bệnh nhân, đây là nhược điểm lớnư2

b. Hệ thống máy vi tính phục vụ công tác quản lý chuyên môn :

– Hệ máy tính Phòng Kế toán Tài chính : 8 máy vi tính, quản lý các khâu kế toán, lương, tài sản, trang thiết bị, y dụng cụ, thuốc men. Các chương trình hoạt động độc lập, không sử dụng chung cơ sở dữ liệu với các bộ phận khác, đã được kết nối mạng bệnh viện.

+ Từ khi BHYT có chủ trương về việc đồng chi trả 20%, tức là người bệnh có thẻ BHYT khi đến khám chữa bệnh phải đóng 20% chi phí điều trị thì cần có thêm biên chế phục vụ cho công việc tính toán và thu tiền này.

+ Nhược điểm của hệ thống này :

Không quản lý một cách toàn diện hoạt động của phòng tài vụ, quản lý thu chi hàng ngày dựa trên sổ sách quản lý bằng tay, các hoạt động thu chi khác như khám ngoài giờ, dịch vụ khác đơn thuần là quản lý bằng sổ sách.

Các chương trình lương, kế toán do Sở Y tế triển khai, không có chương trình nguồn, muốn sửa chữa nâng cấp không được.

– Hệ máy tính Phòng Khám : với lưu lượng bệnh nhân đến khám và điều trị hàng ngày gần 1500 bệnh nhân ở 8 phòng khám của các khoa.

+ Trước đây khi chưa có máy vi tính phải cần 4 nhân viên làm công tác lục tìm hồ sơ khám bệnh, 2 nhân viên làm công tác hành chánh thống kê tổng hợp và các y tá, điều dưỡng tại các phòng khám bệnh ngoài nhiệm vụ phụ bác sĩ khám bệnh còn kiêm thêm việc thống kê bệnh. Việc thống kê có hai mục đích: tổng hợp báo cáo về trên và thống kê để tránh trường hợp một bệnh nhân khám bệnh nhiều lần trong ngày.

+ Sau khi trang bị mỗi phòng khám một máy vi tính để quản lý bệnh nhân đến khám bệnh, công việc của một phòng khám gần như đơn giản do 02 nhân viên nhập liệu máy tính đảm nhận.

Sơ đồ: Quy trình khám chữa bệnh và lưu thông tin vào máy tính tại phòng khám chuyên khoa



Giải thích : bệnh nhân có thẻ BHYT hoặc không có thẻ BHYT, sổ khám bệnh được nhập vào máy tính để theo dõi (hồ sơ bệnh án ngoại trú) lưu trữ các thông tin gồm: mã bệnh nhân, mã số thẻ BHYT, tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan công tác (nếu có), ngày khám bệnh, số ngày điều trị ngoại trú, mã bệnh ICD. Việc nhập liệu kịp thời tránh được tình trạng một bệnh nhân đến khám bệnh và lãnh thuốc nhiều lần trong ngày, giúp báo cáo kịp thời. Trải qua nhiều lần hiệu chỉnh, bổ sung làm cho chương trình ngày càng hoàn thiện.

Từ tháng 04/1998 Sở Y tế triển khai chương trình quản lý bệnh án cho các bệnh viện, cho phép quản lý hồ sơ bệnh án nội, ngoại trú tốt hơn, nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ nhiều điểm yếu:

+ Không phân tích kỹ hoạt động của bệnh viện mà áp dụng một chương trình chung cho toàn ngành Y tế, làm cho đơn vị phải miễn cưỡng sử dụng chương trình ® hiệu quả không cao, gây tâm lý ái ngại ở nhân viên nhập liệu máy tính.

+ Các mẫu báo cáo về Sở Y tế đa dạng, chương trình không đáp ứng đủ nên hàng tháng, quý phải bổ sung liên tục.

+ Không có bảng phân tích thiết kế hệ thống, nên nhân viên vi tính của bệnh viện không thể nâng cấp bảo trì chương trình ® bệnh viện hoàn toàn lệ thuộc vào nơi viết chương trình này.

+ Quy trình nhập liệu không kịp thời làm nên một bệnh nhân BHYT có thể khám bệnh lãnh thuốc nhiều lần trong ngày.

+ Sử dụng công nghệ quá cũ dẫn đến cơ sở dữ liệu không đồng bộ, hay hư hỏng và không thể nâng cấp (chương trình viết bằng phần mềm Foxpro for Dos), không theo kịp thời đại nên không tận dụng được ưu tế của các loại máy vi tính thế hệ mới.

+ Còn những hoạt động khác chưa quản lý bằng máy tính như: khám sức khỏe định kỳ cho các đơn vị khác và trong bệnh viện, khám bệnh từ thiện….

– Hệ máy tính Phòng Tổ chức : công việc chủ yếu cũng là đánh máy văn bản nên hiện nay máy tính ở đây cũng chưa phát huy được hết tác dụng bởi các lý do sau:

+ Chưa triển khai chương trình quản lý hồ sơ nhân sự.

+ Trình độ sử dụng máy tính chưa đồng đều, đa số chỉ biết đánh máy chữ.

+ Hồ sơ lý lịch nhân sự phòng Tổ chức chưa cập nhật thường xuyên.

+ Chưa có một cách thức tổ chức quản lý công việc hằng ngày thống nhất cho nên khó có thể triển khai áp dụng bằng máy tính.

– Hệ máy tính Phòng Trang thiết bị Y tế: được trang bị máy tính phục vụ cho công tác soạn thảo văn bản, chưa có chương trình quản lý thiết bị y tế của bệnh viện. Trước đây, khi bệnh viện chưa được trang bị máy vi tính, thì Bộ Y tế có triển khai chương trình này, sau khi bệnh viện có máy tính, chương trình này được cài đặt nhưng hoạt động không hiệu quả vì các thiết bị y tế cũ thì không có đủ thông số để nhập và chính bản thân người nhập liệu cũng không thích quản lý bằng máy tính hơn là ghi chép sổ sách hằng ngày, dẫn đến máy tính chỉ là công cụ đánh máy cao cấp. Trình độ nhân viên quản lý máy tính ở đây chỉ đạt yêu cầu đánh máy chữ.

– Hệ máy tính Phòng Hành chánh Quản trị: có 01 máy vi tính chủ yếu làm công tác đánh máy văn bản, cần có chương trình quản lý vật tư tài sản cố định trong bệnh viện. Các công tác khác nếu muốn ứng dụng máy vi tính thì phải chuyên môn hóa công việc hành chánh hằng ngày như lịch phân công trực, lịch công tác của nhân viên trong Phòng, tình hình trang thiết bị cơ sở tại các Khoa.

– Hệ máy tính Phòng Kế hoạch Tổng hợp: từ tháng 04/1998 Sở Y tế triển khai chương trình quản lý bệnh án cho các bệnh viện. Theo sự phân công của Ban Giám đốc, Phòng khám Chuyên khoa nhập liệu bệnh án ngoại trú, Phòng Kế hoạch Tổng hợp nhập liệu bệnh án nội trú cho tất cả các đối tượng khám chữa bệnh.

+ Hồ sơ bệnh án nội trú được lập khi bệnh nhân nhập viện điều trị, được lưu vào máy tính trang đầu, sau khi xuất viện, nhập vào máy tính trang cuối.

+ Một số nhược điểm trong qui trình quản lý bệnh án tại phòng kế hoạch tổng hợp.

+ Không theo dõi kịp thời tình hình chuyển viện, chuyển khoa trên máy tính, hệ thống thông tin báo cáo muốn có số lieệu kịp thời vẫn phải làm bằng tay thông qua báo cáo của y tá hành chánh các khoa.

+ Chương trình chưa triển khai ở các khoa bệnh nên y tá hành chánh các khoa vẫn làm báo cáo sổ sách bằng tay.

+ Hồ sơ bệnh án nội trú chỉ quản lý trang bìa (lý lịch trích ngang bệnh nhân, tiền sử bệnh, triệu chứng lâm sàng khi nhập viện) và trang cuối (kết luận bệnh, lời dặn bác sĩ, số ngày nằm viện, ngày xuất viện, BS điều trị) nên không theo dõi được quá trình điều trị bệnh nhân, chưa đáp ứng được việc quản lý bệnh nhân và công tác tổng hợp nghiên cứu khoa học sau này.

+ Từ lúc triển khai chương trình quản lý bệnh án của Sở Y tế cho đến nay, biên chế nhân viên nhập liệu không ngừng tăng.

– Hệ máy tính Khoa Dược: quản lý việc cấp phát thuốc điều trị nội trú và ngoại trú.

Giải thích: Thuốc mua về sau khi nhập kho chính, được xuất qua kho lẻ, từ kho lẻ mới xuất cho các khoa và xuất cho kho BHYT – ngoại trú. Ngoài ra còn quản lý thuốc hư bể, quá hạn sử dụng, công việc quản lý số lượng lớn, ngoài ra lưu lượng bệnh nhân đến khám bệnh lãnh thuốc hàng ngày trên dưới 900 bệnh nhân. Sau khi chương trình quản lý bệnh án của Sở Y tế triển khai có mục quản lý thuốc nhưng chỉ là cục bộ đối với khoa Dược, chủ yếu để báo cáo thống kê cho khoa Dược, nhưng chưa thể hiện được trong Hồ sơ bệnh án nội trú. Trong hồ sơ bệnh án ngoại chẩn tuy có quản lý thuốc nhưng do Mã số bệnh nhân được cấp lại nhiều lần, số thẻ BHYT bị thay đổi thường xuyên (đã đề cập ở phần trên) nên làm cho việc quản lý theo dõi bệnh nhân không được chính xác.

Bài toán đặt ra ở đây là liệu có sự tương đồng 2 chiều khi thống kê tất cả lượng thuốc khoa Dược phát ra cho ngọai trú bằng với số lượng thuốc trong tất cả hồ sơ bệnh án ngoại chẩn?, và hiện nay công việc báo cáo thống kê của khoa Dược vẫn phải vừa làm bằng máy vi tính và bằng tay.

Sơ đồ cấp phát thuốc ở khoa Dược:



– Mạng máy tính của bệnh viện: ngay từ khi Sở Y tế triển khai chương trình Quản lý bệnh án, phương án đặt ra là phải kết nối các máy vi tính tại các Khoa phòng lại thành một mạng nội bộ để có thể giải quyết được trao đổi dữ liệu và phục vụ cho công tác quản lý được tốt hơn. Trong quá trình triển khai nảy sinh một số vấn đề gây khó khăn cho các Khoa Phòng có máy tính định kết nối:

+ Chương trình Quản lý bệnh án chưa hoàn chỉnh.

+ Thiết bị phần cứng (cụ thể là máy chủ) yếu, không phải là máy chủ chuyên nghiệp làm cho mạng hay bị treo.

+ Do lợi ích cục bộ mà người quản lý mạng chưa dung hòa được yêu cầu của các máy tính con tại các phòng. Cụ thể là việc phân bổ tài nguyên máy tính cho các khoa phòng có máy vi tính kết nối không đều nhau, dẫn đến việc cần xử lý thì không đủ không gian đĩa cứng để làm việc. Mục tiêu cuối cùng hướng đến là quản lý toàn bộ hoạt động của bệnh viện thì chương trình chưa thể đáp ứng được.

– Hệ thống mạng MEDINET của Sở Y tế: tháng 05/1999 Sở Y Tế triển khai mạng MEDINET cho toàn ngành, đây là mạng Internet, chủ yếu để trao đổi công văn giữa các đơn vị trong ngành bằng email. Có một số trang web với nội dung chưa phong phú của một số đơn vị như trang chủ của Sở Y tế giới thiệu các công văn mới ban hành, Trung tâm Chẩn đoán Y khoa chủ yếu là để quảng cáo ..., mạng này chạy chưa ổn định, muốn truy cập vào rất chậm, không có đường kết nối với mạng Internet. Như vậy mạng MEDINET chưa phải là một môi trường giao tiếp thuận lợi giữa các đơn vị trong ngành, chưa thể trao đổi thông tin, kinh nghiệm về chuyên môn, do đó với mục tiêu ban đầu là quản lý thống nhất mã số bệnh nhân trong toàn hệ thống các bệnh viện chưa thể thực hiện được. Thí dụ cần hội chẩn một trường hợp bệnh khó qua mạng thì không thể làm được. Ngay cả việc trao đổi hồ sơ bệnh án của bệnh nhân từ bệnh viện này với bệnh viện khác để hội chẩn điều trị chưa có quy chế nên làm cho bệnh nhân mất nhiều thời gian để bác sĩ chẩn đoán và làm các xét nghiệm ... gây tốn kém cho bệnh nhân.

Bảng thống kê số lượng máy tính tại các khoa phòng trong bệnh viện.



Phân tích đánh giá hiệu quả công năng sử dụng máy tính:

– Phòng Tài vụ đa số các máy đều có nhiệm vụ như tính lương, kế toán, quản lý Dược, quản lý chi phí điều trị BHYT nội ngoại trú. Các chương trình là những modul độc lập không kết nối trao đổi số liệu cho nhau được, gây lãng phí máy vi tính.

– Phòng Kế Hoạch Tổng hợp sử dụng máy tính cho việc đánh văn bản, có kết nối mạng.

– Phòng khám chuyên khoa, Khoa Dược, Khoa Trang thiết bị Y tế, Phòng Hành chánh Quản trị sử dụng máy vi tính để đánh máy văn bản, chưa có chương trình quản lý cho khoa phòng của mình.

– Phòng tổ chức sử dụng máy tính để đánh máy văn bản, có chương trình quản lý nhân sự nhưng chưa triển khai.

Bảng thống kê tình hình nhân sự sử dụng máy vi tính tại các khoa phòng trong bệnh viện



Đánh giá trình độ CBCC sử dụng máy tính

Đa số chỉ qua vài khóa căn bản để vận hành máy và sử dụng các chương trình đã có sẵn, chưa sẵn sàng xử lý được các tình huống khi máy bị trục trặc, hay cần phát triển nâng cao phần mềm ứng dụng. Hoạt động thụ động chủ yếu làm cho hết giờ, trách nhiệm công việc chưa cao, những nhân viên làm việc hợp đồng chưa thể thi tuyển công chức được do chưa có bằng cấp (trừ những Kỹ thuật viên và cử nhân Tin học).

Đánh giá chung hoạt động của mạng máy tính bệnh viện

Nhìn chung mạng máy tính của bệnh viện hoạt động chưa có hiệu quả, máy tính phân bố rời rạc không tập trung, hoạt động chưa hết công suất. Các modul ứng dụng làm việc độc lập không thể trao đổi dữ liệu với nhau, chưa thể hiện được hết hoạt động của bệnh viện.

Về nhân sự đa số có trình độ không đáp ứng được nhu cầu (chỉ học căn bản), người quản trị mạng chưa có trình độ cung cấp nên việc triển khai một ứng dụng mới hay giải quyết sự cố trên mạng còn nhiều khó khăn.

Máy tính mỗi năm mỗi tăng nhưng nhân sự không giảm mà còn tăng theo lượng máy tính.

Các máy tính thường dùng để đánh văn bản và chơi game, trang bị không đồng bộ nên việc kết nối mạng còn nhiều khó khăn.

Kinh phí trang bị hàng năm chỉ được vài máy nên muốn triển khai toàn bệnh viện cần một thời gian dài, trong lúc đó các máy tính đã trang bị trước đang bắt đầu xuống cấp phải sửa chữa thậm chí phải thay mới nên hiệu quả đầu tư kém.

Chưa có quy chế, chế độ cho người quản lý mạng máy tính bệnh viện.

Bộ phận máy tính trực thuộc phòng KHTH nên hoạt động việc cung cấp thông tin cho phòng khác gặp khó khăn không kịp thời.

3. Ý kiến đề xuất

Đứng về phía lãnh đạo cần có một tầm nhìn chiến lược đối với vai trò hoạt động thông tin trong cơ quan mà chủ yếu việc trang bị hệ thống máy tính có tính chất quyết định đến chất lượng quản lý và điều trị. Việc trang bị máy tính cần đồng bộ, không thễ trang bị theo từng năm, đến khi trang bị xong thì phải mất rất nhiều năm và những máy trang bị đầu tiên đã bị hư hỏng.

Các đề xuất có tính cách tham khảo:

– Tổ chức cho cán bộ lãnh đạo học về vấn đề tin học hóa quản lý để nắm bắt các chủ trương chính sách của nhà nước về triển khai công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước.

– Tổ chức nâng cao trình độ tin học cho nhân viên nghiệp vụ, đồng thời đào tạo thêm về vi tính cho lực lượng y tá hành chính tại các khoa khi muốn triển khai máy tính toàn bệnh viện.

– Cần có sự đầu tư kinh phí lớn để phân tích hoạt động của bệnh viện, từ đó chuyên viên lập trình có thể tạo nên những mo-dun sát với hoạt động hằng ngày của cơ quan. Mục đích là bảo đảm công việc hành chính cơ quan thuận lợi nhanh chóng, bên cạnh đó việc quản lý chuyên môn với sự trợ giúp tích cực của máy tính góp phần nâng cao chất lượng điều trị trên cơ sở tập hợp thống kê bệnh để nghiên cứu khoa học, trao đổi dữ liệu bệnh án giữa các bệnh viện để việc điều trị bệnh nhân nhanh chóng hiệu quả ít tốn kém. Việc trao đổi dữ liệu với Sở Y Tế không nhất thiết phải dùng chung chương trình của Sở viết mà chỉ cần cung cấp dữ liệu theo các form đã định dạng trước, có như thế thì hệ thống máy tính của bệnh viện không lệ thuộc vào Sở Y tế.

– Cần thành lập phòng vi tính của bệnh viện để quản lý việc triển khai máy tính tại các khoa và nhập liệu Hồ sơ bệnh án nội trú trang bìa (khi bệnh nhân nhập viện), phần chi tiết bệnh án do các khoa nhập liệu (phù hợp với thực tế). Hiện nay tổ vi tính do phòng kế hoạch Tổng hợp quản lý nên việc cung cấp thông tin cho các khoa phòng khác gặp nhiều trở ngại do phải chờ ý kiến lãnh đạo phòng đồng ý thì số liệu mới cung cấp được trong khi số liệu trao đổi trong bệnh viện về chuyên môn không phải là dữ liệu mật làm mất thời gian.

4. Kết luận:


Để có thể triển khai những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào hoạt động quản lý hành chính và chuyên môn ở bệnh viện, một trong những nhiệm vụ chủ yếu là phải từng bước triển khai ứng dụng tin học một cách cơ bản và toàn diện, cần phát huy vai trò lãnh đạo, ý tưởng tiên phong trong lĩnh vực này, mặt khác chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ tại chỗ nhằm từng bước chuyển dần hoạt động quản lý hành chính bằng tay sang máy tính, xem nó như là một công cụ hỗ trợ tích cực trong công việc hằng ngày tạo bước tiến mới cho bệnh viện, nâng cao chất lượng phục vụ điều trị bệnh nhân.

(BS. Trần Công Toại – Trung tâm đào tạo cán bộ Y tế)
Comments