Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin ngành y tế

đăng 03:14, 28 thg 2, 2012 bởi Mr Nguyên   [ đã cập nhật 00:56, 26 thg 1, 2016 ]
Công nghệ thông tin được đưa vào ứng dụng trong ngành y tế từ rất sớm. Trong gần 20 năm qua Bộ Y tế đã có nhiều ứng dụng công nghệ thông tin trong các mặt hoạt động y tế từ trung ương đến địa phương. Đến nay Bộ y tế đã có tổ chức chỉ đạo về hoạt động công nghệ thông tin từ cơ quan bộ đến các đơn vị.


1. Hoạt động y tế và cơ cấu ngành


Theo quy định của chính phủ được cụ thể hóa trong Nghị định 188/2007- NĐ-CP ngày 27/12/2007, ngành y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chăm sóc và bảo vẹ sức khỏe nhân dân bao gồm các lĩnh vực y tế dự phòng, khám bệnh; chữa bệnh; phục hồi chức năng; giám định; pháp y; pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; dược; mỹ phẩm; an toàn vệ sinh thực phẩm; trang thiết bị y tế; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản; quản lý nhà nươc các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Để thực hiện được các chức năng này, hệ thống y tế đã được tổ chức gồm các tuyến: trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và xã, phường; bao gồm trên 13ngàn cơ sở y tế công lập, trên 11 ngàn trạm y tế xã phường. Hệ thống tổ chức ngành y tế được chia theo:


- Hệ thống quản lý hành chính nhà nước: có Bộ Y tế, 63 Sở Y tế và trên 500 phòng y tế huyện, quận.


- Hệ điều trị: với nhiệm vụ chủ yếu là khám chữa bệnh cho nhân dân được tổ chức gồm 1050 bệnh viện, trong đó có trên 30 bệnh viện trung ương, gần 400 bệnh viện tuyến tỉnh, trên 560 bệnh viện huyện, gần 30 bệnh viện các ngành, trên 60 bệnh viện tư nhân và hàng ngàn phòng mạch tư nhân.


- Hệ thống y học dự phòng: với các nhiệm vụ về phòng chống dịch bệnh,vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, vệ sinh lao động, kiểm dịch y tế biên giới, phòng chống các bệnh xã hội như HIV/AIDS, phong, lao,... các bệnh truyền nhiễm,... Hệ thống y tế dự phòng có gồm 30 viện nghiên cứu trung ương, trên 100 trạm y tế dự phòng tuyến tỉnh và trên 500 trạm y tế dự phòng huyện.


- Hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học: có 30 cơ sở nghiên cứu, 20 trường đại học, trên 30 trường cao đẳng và trên gần 100 cơ sở đào tạo trung học và dạy nghề y tế.


- Hệ thống dược phẩm và trang thiết bị y tế gồm trên 5000 công ty, xí nghiệp và nhà thuốc, bên cạnh đó có có trên 10000 nhà thuốc, cơ sở kinh doanh trang thiết bị y tế tư nhân. Hiện nay, có trên chục ngàn các danh mục thuốc, hoá chất đang lưu hành ở nước ta kể cả tân dược và đông dược đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ.


- Tổng số cán bộ đang hoạt động trong ngành y tế công lập gồm gần 300 nghìn nguời với 80.000 cán bộ có trình độ sau đại học và đại học, gần 200 ngàn cán bộ y tế có trình độ trung cấp. Ngành y tế là ngành liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người, trong công việc luôn bị áp lực cao, đòi hỏi khẩn trương, minh bạch, vì vậy công nghệ thông tin là công cụ có vị trí quan trọng hỗ trợ để các hoạt động y tế hoàn thành được nhiệm vụ. Trong những năm qua công nghệ thông tin y tế đã được chú trọng và đạt được một số thành tựu đáng nghi nhận.


2. Tổ chức công nghệ thông tin y tế


Công nghệ thông tin được đưa vào ứng dụng trong ngành y tế từ rất sớm. Trong gần 20 năm qua Bộ Y tế đã có nhiều ứng dụng công nghệ thông tin trong các mặt hoạt động y tế từ trung ương đến địa phương. Đến nay Bộ y tế đã có tổ chức chỉ đạo về hoạt động công nghệ thông tin từ cơ quan bộ đến các đơn vị.

Tại Cơ quan Bộ y tế:


- Bộ Y tế có Ban chỉ đạo CNTT y tế do Bộ trưởng làm Trưởng Ban và Thứ trưởng là Phó trưởng ban thường trực,Văn phòng ban chỉ đạo đặt tại Vụ Khoa học và Đào tạo là cơ quan giúp việc cho Ban chỉ đạo để tham mưu cho Bộ các ứng dụng CNTT trong ngành. Vụ Khoa học và Đào tạo làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về công nghệ thông tin trong ngành.


- Văn phòng Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý cổng thông tin điện tử và quản lý mạng LAN cơ quan Bộ.


- Trung tâm Tin học có nhiệm vụ tư vấn, nghiên cứu, đào tạo và triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin ngành y tế.


- Các cơ sở trực thuộc Bộ, các Sở y tế, các bệnh viện đã và đang hình hành hệ thống tổ chức chuyên trách công nghệ thông tin, với báo cáo của 54 sở y tế và 53 cơ sở trực thuộc Bộ Y tế tháng 12/2008 Ngành y tế đã có:


+ Tại các Sở Y tế: 68,5% sở có bộ phận chuyên trách và 68,5% có kế hoạch định hướng phát triển công nghệ thông tin đến 2010. Trong đó mức độ quan tâm đến ứng dụng CNTT của lãnh đạo ở mức khá trở lên đạt 82%.


+ Tại các đơn vị trực thuộc Bộ: 88,7% có bộ phận chuyên trách và 92,4% có kế hoạch định hướng phát triển công nghệ thông tin đến 2010. Trong đó mức độ quan tâm đến ứng dụng CNTT của lãnh đạo ở mức khá trở lên đạt 91%.


3. Nhân lực cho Công nghệ thông tin


Hiện nay nhân lực công nghệ thông tin đã trở thành một loại hình lao động quan trọng trong ngành y tế. Hầu hết các cơ sở y tế từ tuyến tỉnh trở lên đã có cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin có trình độ từ trung cấp trở lên. Bình quân mỗi sở Y tế có 1,57 người và ở các đơn vị trực thuộc là 3,68 người. Nhân lực CNTT chiếm khoảng 1% so tổng số nhân lực y tế từ huyện trở lên. Hiện nay đã có 50% số Sở y tế và 81% cơ sở trực thuộc đã có chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT cho đơn vị. Tuy nhiên, chưa có chương trình CNTT đặc thù riêng cho lĩnh vực y tế nên chưa có nhiều cán bộ giỏi chuyên về CNTT y tế. Số cán bộ chuyên môn trong ngành y tế từ tuyến Tỉnh trở lên sử dụng được CNTT cho công việc đạt trên 90%.

4. Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin


Mạng máy tính: Trong thập kỷ qua, nước ta đã trang bị được hệ thống hạ tầng CNTT khá tốt. Do dịch vụ đường truyền viễn thông của nước ta phát triển nhanh nên ngành y tế hoàn toàn có khả năng khai thác cho các nhiệm vụ chuyên môn của mình. Hiện nay (12/2008):


- Cơ sở y tế thuộc Bộ đã có 100% các đơn vị trực thuộc Bộ có mạng LAN và kết nối internet tốc độ cao, bình quân mỗi mạng có trên 110 máy tính, 74% cán bộ y tế sử dụng máy tính thông thạo trong công việc, 58% có hệ thống E-mail riêng và 43% có hệ thống bảo mật, 53% có hệ thống backup dữ liệu.


- Tại các tỉnh: 95,3% Văn phòng Sở có mạng LAN và kết nối được Internet tố độ cao, 61% có hệ thông E-mail riêng, 26% có hệ thống bảo mật và 24% có hệ thống lưu trữ dữ liệu.


- Trong 280 bệnh viện địa phương được điều tra có 151 52,9% bệnh viện tỉnh có LAN và 81% kết nối được Internet tốc độ cao. 37,2% bệnh viện huyện có mạng LAN và 65% kết nối internet.


- Trạm y tế: có máy tính là 8% và đã nối mạng internet đạt 0,05%. (số liệu 1/2007).


- Đường truyền: Một số ít cơ sở y tế (chiếm 2%) có đường truyền riêng, trên 70% đơn vị sử dụng đường truyền ADSL và còn nhiều nơi vẫn truy cập Internet bằng Dail-up.


- Internet, Web site: Cơ quan Bộ Y tế có cổng điện tử với thông tin được cập nhật thường xuyên. 100% các trường Đại học, Cao đẳng Y-Dược có mạng LAN, kết nối Internet và Website. Trang thông tin điện tử: 15% Sở Y tế có địa chỉ website trên Internet, 27% đơn vị trực thuộc có trang web. Các cơ sở y tế địa phương kết nối Internet ước đạt 30%; gần 80 đơn vị trực thuộc có Web site trên Internet. Năm 2008 Bộ Y tế đã làm việc với các đơn vị dịch vụ viễn thông như VietTel, VNPT để tìm kiếm sự hợp tác, hỗ trợ các dịch vụ công nghệ thông tin, viễn thông cho ngành y tế. Hiện nay đã ký được thỏa thuận hợp tác với VNPT và đang xây dựng gói giá cước riêng đồng thời đang thương thảo với Intel về chương trình máy tính cho cán bộ y tế (khoảng 200US$) để nhanh chóng phổ cập hóa tin học và Internet cho cán bộ y tế.


5. Cơ sở dữ liệu và phần mềm ứng dụng


Cơ sở dữ liệu: Bộ Y tế chưa xây dựng được kho cơ sở dữ liệu chung của ngành để đáp ứng cho nhu cầu của công tác quản lý. Cơ sở dữ liệu hiện nay còn phân tán và manh mún chưa đồng bộ vì vậy chưa phát huy được thế mạnh của CNTT để cung cấp được đầy đủ cơ sở dữ liệu cho việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển ngành. Cơ sở dữ liệu y tế hiện nay nằm rải rác ở nhiều đơn vị của các Vụ, Cục, Văn phòng Bộ và một số cơ sở trực thuộc cần được tổ chức lại thành trung tâm tích hợp dữ liệu y tế quốc gia. Số hoá các cơ sở dữ liệu y tế là yêu cầu rất cơ bản nhưng đòi hỏi kinh phí, nhân lực và thời gian. Bộ Y tế đã có triển khai nhưng mới ở một số lĩnh vực.


Phần mềm ứng dụng: hầu hết các cơ sở y tế đã đưa vào sử dụng các phần phần ứng dụng như: Quản lý nhân sự, vật tư - tài chính, quản lý công văn,....Do tính cấp bách của việc ứng dụng CNTT y tế nên ngành y tế đã chủ động tổ chức, hỗ trợ để các Nhà cung cấp dịch vụ tin học xây dựng các phần mềm ứng dụng chuyên biệt trong một số lĩnh vực như quản lý bệnh viện, quản lý trang thiết bị y tế, quản lý đào tạo,... Bộ Y tế đã cho sử dụng một số chuẩn quốc tế làm cơ sở xây dựng các phần mềm ứng dụng như: mã phân loại bệnh quốc tế ICD 10 của Tổ chức Y tế Thế giới. Mã thuốc ATC, chuẩn CNTT y tế như: HL7, DICOM,... tạo thuận lợi cho các công ty tin học xây dựng các phần mềm ứng dụng trong ngành y tế. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần được Bộ Y tế cần quan tâm như: công bố chính thức các chuẩn thông tin y tế, chuẩn quy trình hoạt động y tế có ứng dụng CNTT, chuẩn CNTT áp dụng cho ngành để các nhà cung cấp dịch vụ tin học đáp ứng được yêu cầu của ngành. Một số phần mềm xây dựng trong nước: chính thức ban hành phần mềm báo cáo thống kê của bệnh viện và được trên 65% bệnh viện toàn quốc ứng dụng.


Phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện do các công ty Tin học xây dựng đã bước đầu ổn định, triển khai thành công trong khoảng 20% số bệnh viện. Một số phần mềm như tương tác thuốc, bản đồ dịch tễ cho hệ thống sốt rét, quản lý học sinh sinh viên y dược, quản lý thư viện đã bắt đầu có hiệu quả thực tế. Cơ quan Bộ Y tế cũng bước đầu triển khai các phần mềm quản lý công văn, e-office. Tuy nhiên việc triển khai các ứng dụng còn chậm và nhiều khó khăn.


Khám chữa bệnh từ xa hiện vẫn còn đang ở mức thử nghiệm giữa một vài đơn vị y tế với tổ chức quốc tế hoặc ở vài bệnh viện lớn; dự án trọng điểm Telemedicine của Nhà nước (Quyết định 56/2007/QĐ-TTg) vẫn đang ở mức độ xây dựng dự án. Do chưa có văn bản pháp lý hướng dẫn tổ chức hoạt động này cùng với mức chi phí đường truyền hiện còn quá cao nên rất hạn chế. Năm 2008 nước ta đã có vệ tinh VINASAT-1, hy vọng dịch vụ khám chữa bệnh từ xa sẽ được ứng dụng rộng rãi trong ngành trong thời gian tới. Cùng với Bộ Thông tin truyền thông , Bộ Y tế tham gia dự án Internet cộng đồng với nhiệm vụ nội dung chính thức về y tế cho nhân dân bằng nguồn vốn ODA của Nhật bản, Tuy nhiên sau nhiều năm chuẩn bị đến nay vẫn chưa được triển khai.


6. Dịch vụ công và hỗ trợ quản lý điều hành


Các dịch vụ công của ngành y tế bao gồm công tác khám chữa bệnh, y tế dự phòng, Cung cấp thuôc, mỹ phẩm trang thiết bị y tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học,...Hiện nay ngành y tế mới chỉ cung cấp được một số thông tin trên mạng các văn bản liên quan đến y tế như: các văn bản quản lý nhà nước, một số mẫu biểu hay thông báo về quy trình xin phép, cấp phép đăng ký thuốc, trang thiết bị y tế, các thông tin về chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, các đề tài, đề án nghiên cứu khoa học kỹ thuật y dược.... Ngành y tế chưa triển khai được việc đăng ký cấp phép trên mạng việc nhập khẩu thuốc, trang thiết bị y tế hay xác nhận vệ sinh an toàn thực phẩm cho các doanh nghiệp, cá nhân. Năm 2008 Bộ Y tế cũng đã tổ chức thành công Hội nghị trực tuyến về đào tạo cán bộ y tế toàn quốc, tuy nhiên các cuộc họp trực tuyến của Bộ chưa thường xuyên chưa tổ chức được việc trả lời trực tuyến những yêu cầu của dân trên mạng. Hoạt động này sẽ được tăng cường trong năm tới.


7. Kinh phí cho Công nghệ thông tin


Kinh phí cho CNTT đã bắt đầu có mục chi riêng tuy nhiên còn hạn chế, các dự án CNTT được duyệt, chỉ cấp rất ít khoảng 500 triệu cho mỗi dự án, số còn lại được dùng trong nguồn kinh phí thường xuyên nhưng kinh phí thường xuyên của các cơ sở y tế chưa đủ chi cho hoạt động thường xuyên nên thường là đầu tư chắp vá. Ngành y tế đã được nhà nước quan tâm cho xây dựng một số dự án CNTT nhưng việc giải ngân còn rất chậm: Như các dự án Khám chữa bệnh từ xa; Dự án Quản lý hệ thống thông tin y tế dự phòng và hỗ trợ quản lý hành chính Nhà nước; dự án IFC (ODA – JIBIC) vẫn chưa bắt đầu được triển khai, các dự án khác do hỗ trợ quốc tế manh mún và dàn trải, chưa có dự án nào mang tính chất tổng thê của ngành mang tầm cỡ quốc gia. Việc cấp kinh phí cho ứng dụng CNTT thông qua các dự án được duyệt với việc huy động các nguồn kinh phí. Từ năm 2008 Bộ Y tế và Bộ Thông tin truyền thông thống nhất các cơ sở y tế sở dụng ít nhất 1% kinh phí thường cuyên của đơn vị để chi cho ứng dụng CNTT.


8. Những điểm mạnh và yếu trong việc ứng dụng CNTT y tế


Điểm mạnh:


1) Ngành Y tế đã triển khai ứng dụng CNTT rất sớm và đã thu được một số kết quả đáng kể, như đã xây dựng và triển khai phần mềm Medisoft 2003 -báo cáo thống kê bệnh viện dùng chung, phần mềm quản lý học sinh trung cấp,.…đã thu được kết quả ban đầu tốt. Các kinh nghiệm thu được trong quá trình triển khai này rất quý giá.


2) Ngành Y tế là ngành có nhiều lĩnh vực hoạt động có nhu cầu cao về ứng dụng CNTT như: điều trị, y tế dự phòng, dược, an toàn vệ sinh thực phẩm, ... Nhu cầu ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ của Ngành thực sự lớn. Với nhu cầu cao như thế,động lực bên trong để thúc đẩy ứng dụng CNTT là rất lớn.


3) Nhu cầu của người dân, các tổ chức xã hội đối với các dịch vụ công của ngành y tế đang là một áp lực lớn buộc ngành y tế phải ứng dụng công nghệ thông tin mới có thể đảm bảo việc cung cấp thông tin đến người dân trong việc khám chữa bệnh tại các bệnh viện, khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế, cung cấp các dịch vụ đăng ký hành nghề và kinh doanh thuốc, trang thiết bị y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm,... đây là nhiệm vụ đặt ra khá cấp bách cho CNTT y tế.


4) Ngành y tế là ngành liên quan đến tính mạng con người nên quy trình chuyên môn rất chặt chẽ, ứng dụng công nghệ thông tin trong các máy móc y tế rất phổ biến.


5) Trình độ học vấn nói chung của cán bộ ngành y tế, đặc biệt ở tuyến cơ sở là khá cao nên rất thuận lợi cho việc đưa ứng dụng CNTT rộng rãi và nhanh chóng trong ngành.


6) Kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ tại các nước khác đã được triển khai từ rất sớm, tới nay đã tương đối hoàn thiện. Ngành Y tế nước ta có thể học tập rút kinh nghiệm để tránh những sai lầm mà họ đã trải qua.


7) Nhận thức của lãnh đạo, cán bộ, công chức về vai trò của CNTT đối với công tác y tế đã khá cao. Lãnh đạo ở các cấp có trình độ cao, có khả năng ra đầu bài cho những người làm công nghệ thông tin phù hợp với nhu cầu kỹ thuật và tổ chức quản lý đơn vị.


8) Hệ thống các cơ sở y tế ngoài công lập đã rất năng động trong việc đầu tư cho ứng dụng CNTT phục vụ cho việc cung cấp các dịch vụ y tế và hỗ trợ cho quản lý các công việc nội bộ.


Điểm yếu:


1) Vì ngành y tế thường chịu áp lực lớn của việc cứu chữa người bệnh, phòng chống dịch bệnh nên công nghệ thông tin chưa được xác định là một ưu tiên của ngành của các cơ sở y tế. Việc đầu tư cho CNTT y tế còn manh mún, dàn trải, thiếu các dự án độc lập về CNTT.

2) Thiết kế tổng thể ứng dụng CNTT của các cơ sở y tế còn thiếu hoặc chất lượng không cao. Chưa có kiến trúc tổng thể ứng dụng CNTT của toàn Ngành. Các chuẩn thông tin y tế chưa hoàn chỉnh, đồng bộ vì vậy nhiều đơn vị đã không thành công khi triển khai ứng dụng CNTT ở cơ sở.


3) Chưa có phần mềm được ứng dụng rộng rãi trong ngành, chưa xây dựng được kho tích hợp cơ sở dữ liệu y học quốc gia. CNTT phục vụ cho việc cải cách hành chính và điều hành của Bộ rất hạn chế.


4) Nhân sự chuyên môn CNTT tại các sở y tế và các đơn vị y tế thiếu, mất cân đối, tự phát, không thống nhất, đây là điểm yếu rất cơ bản, cần sớm khắc phục.


5) Thiếu các văn bản quy phạm pháp luật về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin y tế. Chưa có quy định về trách nhiệm của lãnh đạo chuyên trách công nghệ thông tin, thiếu nguồn lực đầu tư cho công nghệ thông tin. Chưa có quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng của các đơn vị tham gia hoạt động trong lĩnh vực CNTT của ngành y tế.


6) Trong khi dịch vụ viễn thông rất phát triển, ứng dụng dịch vụ Internet của y tế còn khá hạn chế, cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo các điều kiện cơ bản cho cán bộ y tế (đặc biệt cán bộ y tế từ tuyến tỉnh trở xuống) có thể dễ dàng tiếp cận Internet để tìm kiếm thông tin phục vụ cho công việc chuyên môn y tế. Hạn chế về ngoại ngữ cũng là một cản trở khó khắc phục một khi muốn khai thác các nguồn thông tin từ bên ngoài.


7) Còn thiếu hoặc chưa hoàn thiện các chuẩn thông tin, quy trình hoạt động; các chuẩn CNTT phục vụ cho công tác ứng dụng CNTT y tế.


Theo ban Chỉ đạo CNTT y tế

Comments